Uninature PT - шаблон joomla Скрипты

Mối quan hệ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân

Tác giả: ThS. Lê Thị Thái. - Đăng trong mục: Giới thiệu

Trong các văn kiện liên quan đến lĩnh vực đối ngoại, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề kết hợp giữa Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.

 

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng đã xác định chủ trương, chính sách để mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế, trong đó Đảng nhấn mạnh: đảm bảo sự thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với hoạt động đối ngoại. Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh.

 

Trong các văn kiện của Đảng ta, đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân luôn luôn được định hướng rõ ràng. Đại hội VIII (6-1996) chỉ rõ: "Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ; mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác. Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển".

 

Đại hội IX (4-2001) nêu thêm định hướng: "Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của Nhà nước, hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân. Hoàn thiện cơ chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại...". Các Đại hội X, XI và XII đều tiếp tục khẳng định định hướng này. Đại hội XII của Đảng yêu cầu phải: "Mở rộng, làm sâu sắc hơn và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân".

 

Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân là ba chân kiềng của nền ngoạị giao Việt Nam. Từ các khía cạnh: chủ thể, đối tượng, phương cách tiến hành, có thể thấy một số đặc trưng của các kênh đối ngoại như sau:

 

Đối ngoại Đảng là mối quan hệ giữa Đảng ta với các đảng phái, các tổ chức chính trị ở các nước trên thế giới; cũng đồng thời là mối quan hệ giữa các lãnh đạo Đảng ta với lãnh đạo các đảng, các chính khách, các tổ chức chính trị với các nước. Đối ngoại Đảng do lãnh đạo Đảng, lãnh đạo các ban của Đảng, của các tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương tiến hành trong quan hệ song phương với các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc tại các diễn đàn, tổ chức chính trị đa phương.

 

Ngoại giao Nhà nước là mối quan hệ giữa Nhà nước ta với các nước khác; giữa lãnh đạo của Nhà nước ta với lãnh đạo các nước, các tổ chức chính thức của các nước, các tổ chức quốc tế, các diễn đàn đa phương; là hoạt động chính thức của người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ, Bộ Ngoại giao, các cơ quan đại diện ngoại giao và các cơ quan quan hệ đối ngoại khác.

 

Đối ngoại nhân dân là hoạt động đối ngoại có sự tham gia rộng rãi của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị ở các cấp không nhân danh Đảng, Nhà nước và Chính phủ; của các nhân sĩ, trí thức, các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ, nhà báo, đồng thời các tôn giáo, các dân tộc, các doanh nhân thuộc các thành phần kinh tế; của các tổ chức từ thiện, nhân đạo, bảo vệ môi trường; của nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

 

Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân có nhiệm vụ chung là triển khai đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng; hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. Mục tiêu chung là vì lợi ích quốc gia - dân tộc, duy trì môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, giữ gìn ổn định chính trị, an ninh và an toàn cho nhân dân, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

 

Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân đều thực hiện các chức năng: nghiên cứu, kiến nghị và triển khai đường lối, chính sách đối ngoại; tạo dựng và phát triển mối quan hệ hữu nghị, cùng có lợi với các đối tác; tổ chức thông tin đối ngoại, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, đấu tranh với các âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch.

 

Tuy nhiên, mỗi kênh đối ngoại có những thế mạnh và đặc thù của mình. Đối ngoại Đảng và đối ngoại nhân dân có tính ổn định, lâu dài của Đảng ta và nhân dân ta với các chính đảng và nhân dân các nước, các vùng lãnh thổ, có nội dung phong phú, đa dạng, có phương thức hoạt động đặc thù, không gò bó, không lễ nghi, công thức mà ngoại giao Nhà nước không có điều kiện để làm, hoặc nếu làm thì không thuận lợi bằng. Đối ngoại Đảng và đối ngoại nhân dân tạo nên nền tảng vững chắc để ngoại giao Nhà nước thực hiện các chức năng đặc thù của mình là: đàm phán, ký kết, gia nhập, thực hiện các điều ước quốc tế về hòa bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia; hợp tác quốc tế và hội nhập kinh tế, chính trị, xã hội và các lĩnh vực khác; đồng thời, là kênh chính thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ ổn định chính trị và sự nghiệp phát triển đất nước trong quan hệ với các nước và tại các tổ chức, diễn đàn quốc tế.

 

Trong thời gian tới, đường lối đối ngoại của Đảng cần tập trung tăng cường kết nối đồng bộ, toàn diện và hiệu quả giữa các hoạt động đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, tạo sức mạnh tổng hợp trên mặt trận đối ngoại; khẳng định là trụ cột vững chắc trong ba trụ cột của mặt trận ngoại giao; đóng góp quan trọng vào thực hiện mục tiêu duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp phát triển đất nước; giữ vững chủ quyền lãnh thổ, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

 

 

Tài liệu tham khảo

  1. GS.TS Phùng Hữu Phú - GS.TSKH Nguyễn Văn Đặng – PGS.TS Nguyễn Viết Thông (đồng chủ biên), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, NXB CTQG – Sự thật, Hà Nội, 2016
  2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017.

Khoa LLCT tổ chức thành công Hội nghị Tổng kết năm học 2018-2019

Tác giả: Khoa LLCT. - Đăng trong mục: Giới thiệu

Chiều ngày 4/6/2019, tại văn phòng cơ sở Cẩm Vịnh, Khoa Lý luận chính trị đã tổ chức thành công Hội nghị Tổng kết năm học 2018-2019.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Nhàn chủ trì Hội nghị cùng sự có mặt của tất cả các giảng viên trong Khoa. Thay mặt Ban chủ nhiệm Khoa, TS. Nguyễn Thị Thanh Nhàn đã trình bày Báo cáo tổng kết, đánh giá các ưu khuyết điểm trong năm học vừa qua. Để Báo cáo thêm phần hoàn thiện, Hội nghị đã lắng nghe các ý kiến nhận xét của các giảng viên.

Theo đó, đa phần ý kiến đều thống nhất với Báo cáo mà đồng chí Phó trưởng Khoa phụ trách đã trình bày, đồng thời nhấn mạnh sang năm học tới, BCN Khoa cùng toàn thể giảng viên cần phải có những sáng tạo trong việc tuyển sinh.

Kết thúc phần Báo cáo tổng kết năm học 2018-2019 là phần tự đánh giá, nhận xét của các giảng viên trong Khoa. Theo đó, đa phần giảng viên đều tự đánh giá từ mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, trong đó 9 đồng chí tự đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Tuy nhiên, theo Quy định chỉ có 30% giảng viên trong đơn vị đạt mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Do vậy, Hội nghị đã tiến hành bỏ phiếu kín để chọn ra 7 đồng chí trong tổng số 21 đồng chí.

Sau khi lựa chọn được 7 đồng chí hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Hội nghị cũng đã tiến hành bầu ra 3 đồng chí đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở.

Hội nghị Tổng kết năm học 2018-2019 của Khoa Lý luận chính trị đã diễn ra nghiêm túc, dân chủ và kết thúc trong không khí tốt đẹp, tạo đà phấn khởi cho những mục tiêu mới trong năm học tới.

 

Giảng dạy lồng ghép các giá trị sống qua môn Giáo dục công dân 10

Tác giả: ThS. Phạm Thị Thanh Huyền. - Đăng trong mục: Giới thiệu

Hiện nay ở lứa tuổi học sinh thường xẩy ra tình trạng có nhiều hành vi ứng xử sai lệch chuẩn mực đạo đức xã hội mà người ta thường gọi nó là vô cảm. Nhiều học sinh thành tích học tập rất tốt, nhưng kĩ năng sống rất thấp thể hiện khi giao tiếp, tham gia các hoạt động xã hội, ứng phó với những thử thách… Với cuộc cách mạng 4.0, sự bùng nổ thông tin, nhất là game online - ảnh hưởng bởi các trò chơi mang tính bạo lực dẫn tới tình trạng bạo lực học đường gia tăng. Không những thế trong các nhà trường phổ thông tình trạng học sinh hút thuốc lá, uống r­ượu, nghiện game, chat... xẩy ra rất nhiều, trong khi không phải các em không ý thức đư­ợc sự nguy hại của những vấn đề đó. Nhiều khi các em tham gia chỉ vì đua đòi, có khi không đủ  khả năng để từ chối. Ngoài ra còn nhiều hiện tượng khác như: bỏ học, vi phạm pháp luật ( giao thông, ma túy, mất trật tự công cộng…) gia tăng ở lứa tuổi học sinh.


Tại trường trung học hiện nay, việc giảng dạy giá trị sống và kỹ năng sống mới được đưa vào một số các chuyên đề ngoại khóa, hay các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nhưng số lần thực hiện còn quá ít. Việc vận dụng giảng dạy lồng ghép qua các bộ môn văn hóa có liên quan như Văn học, Sinh học, giáo dục công dân cũng còn hạn chế… Để góp phần thay đổi hiện trạng trên, việc vận dụng giảng dạy giá trị sống và kỹ năng sống nhằm nâng cao kỹ năng sống cho học sinh qua môn giáo dục công dân là cần thiết.

Theo từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: Giá trị là cái dựa vào đó để xem xét một con người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng. Giá trị cũng là những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của một xã hội.

Giá trị sống (hay còn gọi là “giá trị cuộc sống”) là những điều mà một con người cho là tốt, là quan trọng, phải có cho bằng được và vì thế giá trị sống chi phối hành vi hướng thiện của con người.

Giá trị sống được hình thành trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân, nhưng giai đoạn hình thành giá trị sống tốt nhất chính là từ 12 đến 18 tuổi. Môm học Giáo dục công dân phổ thông cũng chính là góp một phần không nhỏ vào việc hình thành giá trị sống ở mỗi học sinh, lồng ghép các giá trị sống trong quá trình giảng dạy sẽ giúp học sinh định hướng giá trị nhân cách cho chính mình.

Trong 12 giá trị sống, chúng ta có thể lòng ghép giảng dạy các giá trị sống như:

Tôn trọng: trước hết là sự tự trọng – là biết giá trị của mình, sau đó là lắng nghe người khác, là biết người khác có giá trị như tôi

Hợp tác: là khi mọi người biết làm việc chung với nhau, cùng hướng về một mục tiêu chung. Hợp tác phải được sự chỉ đạo của nguyên tắc về sự tôn trọng lẫn nhau, quan tâm và sẻ chia với nhau

Trách nhiệm là tạo sự tin cậy và tín nhiệm với mọi người xung quang, góp phần mình vào công việc chung, thực hiện nhiệm vụ bởi lòng trung thực.

Trung thực là nói sự thật, không có mâu thuẫn hoặc thiếu nhất quán trong suy nghĩ, lời nói và hành động.

Hạnh phúc là trạng thái bình an của tâm hồn khiến con người không có những thay đổi đột ngột hay bạo lực; tâm hồn tràn ngập niềm vui, hy vọng và ước mong điều tốt lành cho mọi người

Đoàn kết là sự hòa thuận, hợp tác ở trong và ở giữa các cá nhân trong một nhóm, một tập thể.

Những giá trị này được lồng ghép vào giảng dạy phần 2 công dân với đạo đức thuộc chương trình giáo dục công dân lớp 10 giúp nâng cao kỹ năng sống và hình thành giá trị sống cho học sinh. Các bài được lồng ghép là:

Bài 11: Các phạm trù cơ bản của đạo đức học;

Bài 13: Công dân với cộng đồng;

Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sử dụng các giá trị này thay cho các nội dung, phương pháp giảng dạy thông thường, đưa ra các bảng hỏi, câu chuyện, bản nhạc, đánh thức giá trị bản thân, lắng lại cảm xúc, trải nghiệm, tìm hiểu nội tâm…. bằng các hệ thống thang, bảng kiểm quan sát đánh giá, hình thành giá trị sống, nâng cao kỹ năng sống cho học sinh. Góp phần hoàn thiện nhân cách sống và lối sống lành mạnh cho học sinh.

Mục đích của việc lồng ghép giảng dạy các giá trị sống này nhằm: giúp học sinh suy ngẫm về các giá trị sống và tác động thực tế của việc thể hiện những giá trị này với chính mình, với người khác, với cộng đồng. Đào sâu hiểu biết, tạo động cơ và tinh thần trách nhiệm cho học sinh trong những lựa chọn mang tính cá nhân và xã hội theo hướng tích cực. [1,18]

Việc vận dụng giảng dạy giá trị sống và kỹ năng sống vào giảng dạy các bài số 11, 13 và 14 – môn giáo dục công dân lớp 10 thay thế cho bài giảng bình thường đã nâng cao nhận thức về giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh.

Đề thực hiện tốt hơn nữa việc lồng ghép các giá trị sống trong giảng dạy giáo dục công dân ở trường phổ thông cần:

1. Đối với lãnh đạo trường: Cần quan tâm triển khai đào tạo lớp bồi dưỡng giá trị sống và kỹ năng sống cho toàn giáo viên đặc biệt là hệ thống Giáo viên làm công tác chủ nhiệm; Trang bị hệ thống âm thanh, băng đĩa tư liệu, câu chuyện về giá trị sống cho các lứa tuổi, đặc biệt là cho tuổi trẻ.

2. Đối với giáo viên: Không ngừng trau dồi, bồi dưỡng những tình cảm đẹp, bồi dưỡng rèn luyện kỹ năng sống

         

Tài liệu tham khảo

  1. Diane Tillman (2012), Những giá trị sống cho tuổi trẻ, Nhà xuất bản tổng hợp TP Hồ Chí Minh.
  2. Nguyễn Công Khanh (2012), Giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ năng sống, NXB Hà Nội.
  3. Sách giáo khoa (2016), Giáo dục công dân 10, Nxb Giáo dục.
  4. Tài liệu tập huấn:

          + Giáo dục giá trị và kỹ năng sống cho học sinh phổ thông – Năm 2010 -  Bộ Giáo dục và đào tạo.

          + Bài giảng lồng ghép giảng dạy giá trị sống và kỹ năng sống vào bộ môn GDCD – Viện Khoa học giáo dục Việt Nam

Nghĩ về vai trò định hướng văn hóa đọc của nhà trường

Tác giả: ThS. Trần Nguyên Hào. - Đăng trong mục: Giới thiệu

Ngày Sách Việt Nam ra đời sau Quyết định số 284/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 24/2/2014. Điều 2 trong Quyết định trên đã thể hiện rõ mục đích của việc tổ chức Ngày Sách Việt Nam hàng năm là:


“1. Khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng, nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc nâng cao kiến thức và kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người.

2. Tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh người đọc và những người tham gia sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách.

3. Nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam.” [1]

Trong 5 năm qua, các cơ quan chức năng trên các tỉnh thành đã tổ chức Ngày Sách Việt Nam với nhiều nội dung và hình thức phong phú như lồng ghép việc tổ chức các diễn đàn để bàn luận, tuyên truyền, định hướng văn hóa đọc, việc trao giải các cuộc thi đọc, viết với việc tổ chức trưng bày, giới thiệu sách, báo, tạp chí đến với người đọc.

Hiệu ứng tích cực từ các hoạt động này vào ngày 21/4 hoặc trước ngày 21/4 hàng năm ở các tỉnh thành là đã góp phần quảng bá sách và các ấn bản khác đến với đông đảo bạn đọc hơn; gây được sự chú ý, sự hấp dẫn đối với người đến tham dự cũng như những người xem qua các kênh truyền thông.

Tuy nhiên các hoạt động về Ngày Sách Việt Nam trong những năm qua ở nhiều tỉnh thành chưa thực sự thực hiện được hiệu quả các khuyến nghị như Điều 2 trong Quyết định số 284/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ như đã nêu ở trên.

Hơn nữa, chủ yếu mới chỉ có các cơ quan cấp tỉnh/thành tổ chức các sự kiện về Ngày Sách ở một vài địa điểm cụ thể như ở thư viện tỉnh/thành, ở công viên, đường phố chứ chưa lan tỏa rộng rãi đến tất cả trường học, nhất là các trường phổ thông.

Có lẽ không cần bàn nhiều về những mặt đã làm được và chưa làm được của các cơ quan, đơn vị thuộc nhiều tỉnh thành trong việc tổ chức Ngày Sách Việt Nam. Điều quan trọng là chúng ta cần nhìn nhận lại một vấn đề: Liệu việc chỉ tổ chức Ngày Sách hàng năm đã đủ vai trò tăng thêm niềm yêu thích đọc sách, hình thành thói quen đọc sách ở nhiều người hơn và đã đủ định hướng hình thành và phát triển văn hóa đọc trong học sinh, sinh viên hay chưa ?

Thực trạng văn hóa đọc hiện nay ?

Qua nhiều công trình nghiên cứu, qua sự phản ánh của truyền hình, báo chí và qua thực tế, chúng ta đã biết một thực trạng đáng buồn là: Việt Nam là một trong số ít nước có tỉ lệ người dân lười đọc sách nhất trên thế giới.

“Theo thống kê, trung bình một người Việt đọc 4 cuốn sách/ năm, mỉa mai thay là 2,8 cuốn là sách giáo khoa và 1,2 cuốn là sách khác. Báo cáo Vụ Thư Viện, Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch năm 2015, tỷ lệ người Việt hoàn toàn không đọc sách chiếm 26%, thỉnh thoảng mới đọc sách chiếm đến 44% dân số.

Trong khi đó, người dân Singapore đọc đến 14 cuốn sách một năm, người Nhật là 20 cuốn. Những dân tộc hàng đầu thế giới như Đức, Pháp, Isreal, một người dân đọc từ 20 cuốn sách/ năm. Đó là một trong những nguyên nhân giúp họ văn minh, giàu có, phát triển”.[2]

Chúng ta biết, khái niệm “văn hóa đọc” được hiểu là những giá trị của đọc sách hay đọc sách một cách có văn hóa như là: thực hành việc đọc sách “một cách có ý thức, tự giác, có trình độ hiểu biết, không chỉ làm vì nhu cầu thiết yếu, mà còn vì nhu cầu tinh thần, trí tuệ”[3], có kỹ năng đọc một cách khoa học và hiệu quả, có thẩm mĩ đọc...

Trước khi hiểu đầy đủ, sâu sắc các dấu hiệu trên trong nội hàm của khái niệm “văn hóa đọc” và ý nghĩa của nó thì điều chúng ta cần quan tâm nhất khi nói đến “văn hóa đọc”, với tư cách là giá trị cần được tuyên truyền, định hướng cho người dân nói chung, cho giới trẻ, học sinh, sinh viên nói riêng, là phải hình thành ở mỗi người niềm yêu thích đọc sách, thói quen đọc sách một cách tự giác như một nhu cầu thiết thân phục vụ cho việc học tập, cho phát triển sự nghiệp và định hình nhân cách sống tốt đẹp.

Vì vậy thực trạng người Việt Nam là một trong những người dân của số ít nước lười đọc sách nhất thế giới theo thống kê gần đây như đã nói ở trên là một trực trạng đáng buồn và nó phản ánh một điều là “văn hóa đọc” chưa định hình được rõ ràng, chưa trở thành giá trị phổ quát ở Việt Nam trong nhiều năm qua và chắc là chưa thể “lên ngôi” được trong nhiều năm tới.

Đại đa số giới trẻ nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng ở nước ta hiện nay - đối tượng cần đọc sách nhiều nhất để phục vụ cho việc học, cho việc xây dựng sự nghiệp thành công, cuộc sống hạnh phúc trong tương lai và định hình nhân cách sống tốt đẹp, phù hợp - lại không có thói quen đọc sách, không có niềm đam mê đọc sách.

Đây là một thực trạng không chỉ đáng buồn mà đáng lo ngại đối với ngành giáo dục cũng như đối với xã hội bởi một tỉ lệ lớn nguồn lao động hiện tại và trong tương lai ở nước ta hiện nay đang thiếu những kiến thức, kỹ năng cần thiết để làm việc, để nhìn nhận, đánh giá và giải quyết các vấn đề được đặt ra; ngày càng đông thanh thiếu niên có quan niệm cùng lối sống lệch chuẩn, loạn chuẩn và số lượng học sinh, sinh viên thiếu văn hóa, thiếu đạo đức, vi phạm pháp luật ngày càng tăng đến mức đáng báo động.

Vậy những nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên ?

Không thể phủ nhận nguyên nhân khách quan dẫn đến văn hóa đọc xuống cấp là sự lên ngôi của văn hóa nghe, nhìn với sự hỗ trợ đắc lực của các công cụ công nghệ như internet được truyền tải bởi các phương tiện nghe nhìn thuận tiện, hiện đại như máy tính, điện thoại, ti vi thông minh và sự nổ rộ của báo online, các trang thông tin truyền thông, mạng xã hội.

Nhưng nguyên nhân chính theo chúng tôi vẫn là xuất phát từ nền giáo dục hiện hành với nhiều hạn chế trong nội dung chương trình, sách giáo khoa, cách dạy, cách học và cách thi, đánh giá.

Có thể kể đến một số hạn chế trong những yếu tố trên của nền giáo dục nước ta hiện nay là:

Chương trình hướng đến phát triển toàn diện người học nhưng đang “ôm đồm”, quá tải, không phát huy được các khả năng, năng lực, sở trường, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của người học, quá nặng về lý thuyết, lý luận, nhẹ về thực hành, thiếu vận dụng và trải nghiệm thực tế; chưa chú trọng giáo dục văn hóa, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, giá trị sống, kỹ năng mềm...

Bên cạnh đó, cách dạy của giáo viên, giảng viên thiên về truyền thụ một chiều, áp đặt theo sự hướng dẫn, trình bày của chương trình, sách giáo khoa, giáo trình; thiếu sự gợi mở đã không tạo điều kiện cho tư duy độc lập, tư duy phản biện của người học phát triển.

Cách đánh giá người học của hầu hết các trường học là chủ yếu dựa vào điểm số qua các bài kiểm tra, bài thi với nội dung thi hầu như được đóng kín trong sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo chính đã được giáo viên sử dụng trong quá trình giảng dạy.

Nội dung và hình thức các bài thi chủ yếu là hướng đến việc kiểm tra mức độ ghi nhớ, mức độ hiểu, phân tích, tổng hợp các kiến thức đã học chứ chưa chú trọng đến phát huy, phát triển khả năng biện luận, đánh giá, thể hiện nhận thức sâu rộng hơn hay cách hiểu riêng, quan điểm riêng của người học.

Bên cạnh đó, các trường học cũng ít chú trọng đến việc tuyên truyền về chức năng, ý nghĩa của việc đọc sách, về văn hóa đọc và chưa áp dụng phương pháp kiểm tra mức độ nhận thức, hiểu biết, cảm thụ của người việc qua việc đọc sách như giới thiệu, giao nhiệm vụ đọc sách và làm bài tập tại nhà, tại lớp sau khi đọc đọc sách nên thói quen, niềm yêu thích đọc sách của người học không được hình thành từ nhỏ để từ đó có thể hình thành văn hóa đọc.

 Tất cả những hạn chế trên dẫn đến người học thụ động, quá phụ thuộc vào bài giảng của người dạy, vào sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu nhà trường và người dạy cung câp mà không tự tìm tòi, khám phá để hiểu sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, đa chiều hơn về những vấn đề tiếp nhận để có tư đuy độc lập, sáng tạo.

Điều đáng nói là hạn chế này của người học cũng không ảnh hưởng gì nhiều đến việc thi cử, có điểm số đạt yêu cầu về kiểm tra, đánh giá do nhà trường và người dạy quy định. Thậm chí nhiều học sinh, sinh viên với cách học như trên vẫn đạt điểm cao và trở thành học sinh, sinh viên giỏi.

Hơn nữa, trong học sinh, sinh viên cũng như các bậc phụ huynh đang có quan niệm, niềm tin rằng: chỉ cần học để lấy tấm bằng mức với mong muốn làm sao có bảng điểm càng cao càng tốt, học lực được ghi trên bằng càng cao càng tốt là có thể thành công sau khi ra trường, nên việc học của học sinh, sinh viên chủ yếu là để nhận điểm số, để phục vụ cho việc thi và tốt nghiệp nhận bằng.

Đó là những nguyên nhân dẫn đến học sinh, sinh viên hiện nay lười đọc sách, ngoài sách giáo khoa, giáo trình. Trong khi học sinh, sinh viên không ý thức được rằng có nhiều cuốn sách cần phải đọc để mở rộng chân trời tri thức, hiểu sâu sắc và đúng đắn hơn các thông tin, kiến thức mình thu nhận được trên con đường tiếp cận chân lý; để giúp mình phát triển tư duy, trong đó quan trọng là tư duy lôgíc, tư duy phản biện; biết giải quyết các vấn đề nẩy sinh trong thực tiễn, trong cuộc sống để thành công; có cơ hội nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách sống để hạnh phúc.

Thiết nghĩ để hình thành và phát triển văn hóa đọc trong người dân trước hết phải hình thành nhu cầu đọc sách, thói quen đọc sách, niềm đam mê đọc sách ở học sinh ngay từ lúc bắt đầu biết đọc, biết viết.

Để làm được điều đó, cần phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa nền giáo dục theo hướng hình thành nên những con người biết tự khai sáng cho mình, mà một trong những môi trường giúp người học tự khai sáng đó chính là sách.

Bởi sách chính là một thế giới thứ hai mà người học bước vào khám phá để khi bước ra sẽ trở thành những người có tâm thế đĩnh đạc, có đủ khả năng, năng lực, đạo đức, văn hóa sống và tâm huyết xây dựng thế giới thực tại ngày càng phát triển văn minh hơn, tiến bộ hơn và con người ngày càng nhân văn hơn.

                             TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Quyet-dinh-284-QD-TTg-nam-2014-Ngay-Sach-Viet-Nam-221784.aspx
  2. http://cafebiz.vn/co-mot-the-he-mang-ten-luoi-luoi-doc-sach-luoi-lao-dong-thich-ruou-bia-can-benh-tram-kha-khien-chung-ta-mai-khong-giau-2018011011293232.chn
  3. http://vanhocnghethuathatinh.org.vn/doc-va-van-hoa-doc-1555384444.html

 

Sử dụng tư liệu lịch sử để giảng dạy môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ở trường Đại học Hà Tĩnh

Tác giả: ThS.NCS.Trần Thị Thúy. - Đăng trong mục: Giới thiệu

Cùng với lịch sử ra đời và lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, môn học Đường lối cách mạng (ĐLCM) của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) - hệ thống tri thức về quá trình xây dựng, bổ sung và phát triển đường lối lãnh đạo của Đảng trong các giai đoạn cách mạng khác nhau ngày càng chứng tỏ được tầm quan trọng đặc biệt của nó.


Đây là môn học mà nội dung phản ánh một cách rõ nét sự vận động liên tục trong tư duy chiến lược của Đảng; khả năng thích ứng trong các hoàn cảnh, đặc biệt là nghệ thuật lãnh đạo chính trị của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Qua thực tế giảng dạy môn học ĐLCM của ĐCSVN, cùng với việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), việc sử dụng tư liệu lịch sử (TLLS) đã đem lại nhiều hiệu quả tích cực.

TLLS là một nguồn tài liệu quý giá, mang tính chân thực, không hư cấu, không dàn dựng, khách quan, khoa học, hiện thực cuộc sống được phản ánh một cách trung thực nhất như nó vốn có. Đặc biệt, TLLS có tác động và ý nghĩa rất lớn trong giảng dạy môn ĐLCM của ĐCSVN ở các trường Đại học nói chung và trường Đại học Hà Tĩnh nói riêng. Việc sử dụng TLLS trong bài giảng không chỉ cung cấp kiến thức mà còn góp phần tạo hứng thú, nâng cao hiệu quả bài học, bồi dưỡng niềm tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng; từ đó, sinh viên tự nâng cao ý thức trách nhiệm của mình trước sự phát triển của đất nước. Chính vì vậy, vấn đề “Sử dụng tư liệu lịch sử để giảng dạy môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ở trường Đại học Hà Tĩnh” vừa mang tính lý luận vừa đảm bảo tính cấp thiết hiện nay.

  1. Thực trạng của vấn đề

Qua thực tế giảng dạy học phần ĐLCM của ĐCSVN, nổi lên một số vấn đề sau:

Một là, sinh viên hầu như rất ít hào hứng nghe giảng vì các em quan niệm rằng môn học nặng tính chính trị, khô khan, nhiều kiến thức phải xâu chuỗi theo logic phức tạp, khó hiểu và khó nhớ;

Hai là, sự bàng quan của đại bộ phận sinh viên đối với những diễn biến thời sự trong nước và quốc tế, nhất là những vấn đề liên quan đến quan hệ quốc tế, chưa nói đến khả năng phân tích và hiểu đúng bản chất, quy luật của các hiện tượng hay chuỗi sự kiện cụ thể;

Ba là, nhận thức vừa không đầy đủ lại vừa thiếu chính xác về lịch sử dân tộc, về vai trò lãnh đạo của ĐCSVN trong từng thời kì cách mạng, từng giai đoạn lịch sử; dễ bị phân tâm và hoang mang dẫn đến nhận thức lệch lạc bởi các thông tin phi chính thống.

Bốn là, Đối với sinh viên Lào, mặc dù được sự quan tâm đặc biệt từ phía nhà trường cũng như khoa, bộ môn và giảng viên nhưng những hạn chế về ngôn ngữ làm ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập cũng như nhận thức. Qua thực tế giảng dạy và tiếp xúc với các em, tác giả nhận thấy việc triển khai các PPDH tích cực mang lại hiệu quả tối ưu nhất đó là sử dụng các hình ảnh mang tính trực quan. Do đó, sử dụng TLLS không chỉ truyền tải các kiến thức của bài giảng mà còn giới thiệu về truyền thống văn hóa, lịch sử dựng nước và giữ nước đáng tự hào của dân tộc Việt Nam.

Để thu hút sự quan tâm của sinh viên, tạo không khí sôi nổi, hào hứng cho giờ học và quan trọng hơn cả là định hướng nhận thức đúng đắn về đường lối lãnh đạo của Đảng, giảng viên phải có sự sáng tạo, đầu tư công sức sưu tầm tư liệu; linh hoạt gắn nội dung bài học với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, liên hệ với những nhân vật, sự kiện lịch sử tiêu biểu; ở mức độ cho phép, có thể sử dụng các phương pháp liên ngành, tiếp cận vấn đề từ góc độ lịch sử - văn hóa, địa - lịch sử - văn hóa... Dưới góc nhìn chủ quan, bằng những tìm tòi, trăn trở và trải nghiệm trong quá trình đổi mới PPDH các môn lý luận chính trị nói chung và môn ĐLCM của ĐCSVN nói riêng, tác giả mạnh dạn chia sẻ một số kinh nghiệm sử dụng TLLS nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn học.

  1. Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề

2.1. Phân loại tư liệu lịch sử

2.1.1. Khái niệm tư liệu lịch sử

Xét về mặt lý luận, TLLS là những sản phẩm hoạt động của con người, nó xuất hiện như một hiện tượng xã hội phục vụ cho một mục đích, một nhu cầu nào đó của xã hội đương thời và tồn tại như những di tích, dấu vết của hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã qua. Từ đó ta có thể hiểu, TLLS là những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ nhất định, mang trong mình nó những dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh trực tiếp và trừu tượng một mặt hoạt động nào đấy của con người.

Qua thực tế giảng dạy và trong phạm vi của đề tài, giải thích một cách dễ hiểu nhất, TLLS là các sự kiện, tài liệu mà mỗi giáo viên cần phải sưu tầm để minh họa nội dung bài học. Tư liệu càng sinh động, phong phú bao nhiêu thì nội dung bài giảng dễ hiểu và càng hay bấy nhiêu.

2.1.2. Các loại hình tư liệu lịch sử

Tùy thuộc vào nội dung phản ánh và tính chất của sử liệu, người ta thường chia TLLS thành 7 nhóm

1/ Tư liệu thành văn

2/ Tư liệu vật chất

3/ Tư liệu truyền miệng dân gian

4/ Tư liệu ngôn ngữ

5/ Tư liệu dân tộc học

6/ Tư liệu phim ảnh, băng ghi hình

7/ Tư liệu băng ghi âm

Căn cứ vào đối tượng sinh viên trường đại học Hà Tĩnh hiện nay, số lượng lưu học sinh Lào chiếm tỷ lệ khá lớn, việc sử dụng nguồn TLLS phù hợp nhất và mang lại hiệu quả cao nhất đó là tư liệu phim ảnh, băng ghi hình. Hơn nữa, trong bối cảnh xã hội hóa công nghệ thông tin như hiện nay, việc tiếp cận và khai thác nguồn TLLS này khá thuận lợi lại vô cùng hấp dẫn. Chính vì vậy, để làm sáng tỏ mục đích yêu cầu của đề tài, tác giả tập trung làm rõ nguồn tư liệu chủ yếu là phim ảnh, băng ghi hình được sử dụng trong quá trình giảng dạy môn ĐLCM của ĐCSVN ở trường đại học Hà Tĩnh.

2.2. Vận dụng tư liệu lịch sử để giảng dạy môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

2.2.1. Xem tư liệu lịch sử là một phương tiện hỗ trợ bài giảng chứ không phải là cung cấp kiến thức tuyệt đối

Để giảng dạy môn ĐLCM của ĐCSVN lôi cuốn, khoa học, hiệu quả, giảng viên phải sử dụng nhiều PPDH theo hướng phát triển năng lực của người học trước yêu cầu đổi mới giáo dục đại học hiện nay như: dạy học kiến tạo, dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, kỹ thuật động não, phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy cùng với các phương tiện dạy học hiện đại khác như máy chiếu, projecter và đặc biệt đối với môn học này phải tạo điều kiện đưa sinh viên đi tham quan các viện bảo tàng, nhân chứng lịch sử. Giảng viên không nên lạm dụng trình chiếu ở mỗi bài, mỗi giờ lên lớp, làm như vậy dẫn đến nhàm chán, chỉ nên sử dụng trong trường hợp TLLS gắn liền với đường lối cách mạng của Đảng CSVN liên quan đến bài học.

2.2.2. Sử dụng tư liệu lịch sử phải có địa chỉ khai thác tin cậy

Hiện nay, có nhiều mạng xã hội đăng tải TLLS dưới quan điểm và góc nhìn phản diện chưa được các cơ quan có thẩm quyền cho phép, kiểm duyệt. Giáo viên không lạm dụng, trình chiếu kéo dài thời gian trong bài giảng, giảng viên hướng dẫn cho sinh viên rõ các TLLS chính thống được kênh truyền hình VTV1 đặt hàng và công chiếu (trang web: VTV1: Phim tài liệu) hoặc Đài truyền hình Vĩnh Long (trang web: THVL/ Phim tài liệu), đồng thời giảng viên cũng nêu rõ, hiện nay lợi dụng vào sự phát triển công nghệ truyền hình, tự do báo chí, ngôn luận nhiều trang mạng lợi dụng nói xấu Đảng, chế độ, vì vậy sinh viên cần phải có nhận thức, tầm nhìn, bản lĩnh chính trị để loại trừ, không truy cập các trang mạng đó.

2.2.3. Lựa chọn những tư liệu lịch sử phù hợp, sát với nội dung, mục tiêu bài giảng

Trước hết, giảng viên phải nắm vững nội dung kiến thức bài giảng, tránh nhầm lẫn giữa giảng dạy môn lịch sử Việt Nam và ĐLCM của ĐCSVN. Đối với giảng dạy đường lối, giảng viên chỉ lựa chọn những TLLS điển hình tương ứng với nội dung phù hợp, tiêu biểu để chứng minh cho chủ trương, đường lối đúng đắn của ĐCSVN ở giai đoạn đó. Tránh sa đà, sử dụng các TLLS theo các sự kiện, diễn biến của các cuộc chiến tranh ( tập trung ở 3 chương đầu), mà không làm rõ chủ trương, đường lối của Đảng ta ở mỗi thời điểm lịch sử.

2.2.4. Hướng dẫn sinh viên tìm kiếm tư liệu lịch sử và xem ở nhà

Với mục đích kiểm tra ý thức tự giác, khả năng nhận thức và hiểu biết chủ trương, đường lối của Đảng, giảng viên hướng dẫn tìm kiếm những TLLS có liên quan đến bài học mới.

Sử dụng TLLS trong dạy học môn ĐLCM của ĐCSVN là một trong những biện pháp mang lại hiệu quả giáo dục cao. Hình ảnh, màu sắc, âm thanh, sự kiện trong đó giúp cho sinh viên có những hiểu biết cơ bản về đường lối lãnh đạo cách mạng của ĐCSVN qua các thời kỳ mà không một giáo trình nào, một bài giảng nào có thể truyền tải hết được. Đây là sự kết hợp hiệu quả nhất giữa giáo dục với khoa học, phát huy tính sáng tạo và khả năng thích ứng của sinh viên. Những TLLS sát với nội dung bài học, không chỉ giúp sinh viên nắm được bài ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sâu và nhớ lâu những nội dung của bài học mà gợi ra nhiều vấn đề để các em tự suy nghĩ và tự giải đáp. Nhờ vậy, các tiết học luôn diễn ra trong không khí sôi nổi từ đầu đến cuối giờ học, hiệu quả môn học được nâng lên rõ rệt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Giáo dục và đào tạo (2016), Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
  2. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập (tập 3), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
  3. Nguyễn Dy Niên (2002), Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.169.
  4. Đặng Phong, Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989, Nxb Tri thức, Hà Nội.
  5. Jean Marc Dénommé et Madeleine Roy (2000), Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
  6. com/watch.
  7. http://text. 123doc.org.document.