Uninature PT - шаблон joomla Скрипты

Bộ môn Chính trị tham gia Hội thảo "90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh"

Tác giả: Khoa Chính trị - Luật. - Đăng trong mục: Giới thiệu

Sáng ngày 18/1/2020, tại Trường chính trị Trần Phú, các giảng viên của Bộ môn Chính trị đã tham gia Hội thảo khoa học với chủ đề: "90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh"


Đến dự và chỉ đạo Hội thảo có Bí thư Tỉnh ủy Lê Đình Sơn, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Võ Hồng Hải. Hội thảo còn có sự góp mặt của đại diện các cơ quan ban ngành trong tỉnh, các chuyên gia và nhà khoa học trong và ngoài tỉnh.

 

Bộ môn Chính trị có 3 giảng viên tham gia Hội thảo, gồm Phó trưởng Bộ môn, ThS. Nguyễn Thị Hồng Ninh, ThS. Đường Thế Anh và ThS. Lê Thị Thái. Với các góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau, bài viết của các giảng viên Bộ môn Chính trị đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh trong các vấn đề, như xây dựng nông thôn mới, xây dựng chính quyền địa phương và cải cách tư pháp. Thông qua Hội thảo, các bài viết đã đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới.

 

Hội thảo còn là cơ hội để các giảng viên Bộ môn Chính trị giao lưu, học hỏi kinh nghiệm trong nghiên cứu với các chuyên gia và nhà khoa học trong và ngoài tỉnh, qua đó nâng cao trình độ chuyên môn hơn nữa.

Sinh viên K9 Chính trị - Luật thực tập tốt nghiệp tại Lào

Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Hồng Ninh. - Đăng trong mục: Giới thiệu

Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo, giúp sinh viên lần đầu tiên thực hành công việc nghề nghiệp của mình trong thực tiễn.


 

Được sự đồng ý của Phòng Đào tạo, Ban Giám hiệu Trường Đại học Hà Tĩnh, khoa Chính trị - Luật đã lên kế hoạch thực tập sớm cho sinh viên Lào K9 ngành Giáo dục chín trị và ngành Luật về thực tập tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ngay sau khi kết thúc học kỳ I năm học 2019 – 2020.

 

Kế hoạch thực tập của sinh viên Lào K9 Giáo dục chính trị và K9 Luật được bắt đầu từ ngày 30/12/2019  đến ngày 28/02/2020.

 

Được thực tập tại đất nước Lào là một thuận lợi lớn cho sinh viên Lào. Các em có điều kiện dễ dàng hơn trong nắm bắt công việc và là tiền đề tốt cho nghề nghiệp tương lai sau khi tốt nghiệp ra trường về đất nước Lào công tác.

 

Cho đến nay, 61 sinh viên Lào K9 Giáo dục chính trị và 139 sinh viên Lào K9 Luật đã tham gia thực tập tại các cơ quan đơn vị đăng ký. Các em đã được phân công cán bộ hướng dẫn và làm quen với cơ quan đơn vị, với công việc được giao.

 

Thực tập tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, sinh viên Lào phải tự liên hệ cơ quan thực tập, phải tự đến cơ quan thực tập, nhưng các em luôn nhận được sự hướng dẫn chu đáo tận tình của các giảng viên khoa Chín trị - Luật. Trước khi về Lào thực tập, sinh viên đã được hướng dẫn nhận đề tài chuyên đề thực tập, và thực hiện các hồ sơ theo quy định. Giảng viên và sinh viên đã lập nhóm trên facebook, zalo và google classroom để thường xuyên liên lạc, nắm bắt tình hình. Vào thứ 6 hàng tuần, sinh viên phải báo cáo công việc thực tập của mình bằng nhật ký thực tập, có xác nhận của người hướng dẫn bên Lào và chữ ký của Thủ trưởng và con dấu của cơ sở thực tập.

 

Hàng tuần giảng viên hướng dẫn sẽ báo cáo tình hình cho Ban Chủ nhiệm khoa Chính trị - Luật.

 

Đến nay, sinh viên Lào đã làm quen với môi trường và tác phong làm việc tại đơn vị thực tập. Lãnh đạo và cán bộ tại đơn vị thực tập hết sức tạo điều kiện để sinh viên được tiếp cận với thực tế;

 

Tất cả các sinh viên Lào đều tuân thủ nghiêm túc các quy định của Nhà trường trong thời gian thực tập; chấp hành đầy đủ nội quy, quy chế của các đơn vị thực tập và mọi sự phân công công việc của người hướng dẫn thực tập cũng như lãnh đạo đơn vị.

Ứng dụng Google Calssroom trong đào tạo E-Learning tại Trường Đại học Hà Tĩnh

Tác giả: ThS. Trần Nguyên Hào. - Đăng trong mục: Giới thiệu

 

 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về e-learning

 

1.1. Khái niệm e-leaning

 

Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về e-learning theo các khía cạnh khác nhau, vì vậy có rất nhiều định nghĩa về e-learning.

 

Theo tài liệu tập huấn bài giảng điện tử e-learning của Cục công nghệ thông tin- Bộ Giáo dục và đào tạo, e-learning (electronic learning) là một thuật ngữ dùng để miêu tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông”

 

Theo William Horton, e-learning là sử dụng công nghệ web và Internet trong học tập [1, tr.165]

 

“E-learning là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục” (MASIE center)

 

“E-learning là cách thức học mới qua mạng internet, qua đó học viên có thể học mọi lúc, mọi nơi, học theo sở thích và học suốt đời” (EDuSOFT LTD)

 

“E-learning là việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử. Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dưa trên máy tính” (Computer Base Training), (Sun microsystems, Inc)

 

Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm e-learning theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau:

 

“Hiểu theo nghĩa rộng, e-learning (electronic learning) là việc ứng dụng công nghệ (đặc biệt là công nghệ thông tin) nhằm nâng cao chất lượng và thõa mãn nhu cầu đào tạo. Theo quan điểm hiện đại, e-learning là việc phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, internet, intranet...trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, Audio...thông qua một máy tính hay TV, người dạy và người học giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: Email, thảo luận trực tuyến (Chát), diễn đàn (Forum), hội thảo video (Video Conferencing... Việc giao tiếp có hai hình thức: - Giao tiếp đồng bộ (synchoronous) là hình thức giao tiếp trong đó những người sử dụng mạng tại cùng một thời điểm và giao tiếp với nhau; ví dụ, thảo luận trực tuyến, hội thảo video...; - Giao tiếp không đồng bộ (unsynchronous) là hình thức mà những người giao tiếp không nhất thiết truy cập mạng tại cùng một thời điểm; ví dụ, email, diễn đàn.” [2, tr.20].

 

1.2. Lợi ích, hiệu quả của e-learning trong học tập, đào tạo qua đánh giá của một số công trình nghiên cứu

 

            Đã có nhiều công trình nghiên cứu ngoài nước đánh giá cao tính hiệu quả e-learning trong học tập, đào tạo như:

 

            Trong đề tài nghiên cứu “writing on the board as students’preferred teaching modality in a physiology course”, nhóm tác giả Chris Armuour, Stephen D. Schneid, and Katharina Bandl (2015) cho rằng các dùng video tường thuật có thể thích hợp hơn so với dùng PowerPoint trong giảng dạy.

 

            Công trình nghiên cứu “What campus-based students think about the quality and benefits of E-Learing của nhóm tác giả Fiona Concannon, Antoinette Flynn, Mark Campbell (2005) đã xác định nhu cầu chuyển từ phương pháp giảng dạy truyền thống sang e-learning dựa trên lợi ích của nó đối với giáo viên và học sinh. Bài nghiên cứu đã đánh giá được rằng các sinh viên tiếp xúc với bài giảng e-learning thực hiện tốt hơn so với các sinh viên khác được dạy bằng phương pháp dạy sử dụng bảng đen. Công nghệ đổi mới sử dụng e-learning đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc dạy và mang lại lợi ích cho học sinh đạt thành tích cao, trung bình và thấp. Họ khuyến nghị giáo viên nên sử dụng bài giảng e-learning trong giảng dạy để cải thiện hiệu suất của học sinh.

 

            Ở trong nước, nhiều công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra những ưu thế, lợi ích của e-learing và hiệu quả của nó mang lại cho người dạy và người học.

 

            Trong công trình Mô hình tổ chức tự học giáo dục học cho sinh viên đại học sư phạm có sự hỗ trợ của hệ thống e-learning, Tạp chí Giáo dục số 268, ThS. Nguyễn Thị Thanh Hồng đã đưa ra một cách tổng thể các ưu thế của e-learning trong dạy học qua các mặt như sau:

 

            “a) Đối với nội dung học tập: - Hỗ trợ “các đối tượng học” theo yêu cầu, cá nhân hóa việc học....tạo ra tính mềm dẻo trong quá trình học tập; - Nội dung học tập được cập nhật, phân phối dễ dàng, nhanh chóng... Hiệu quả tiếp thu bài học của học viên được nâng lên vì có thể học với nhưng giáo viên tốt nhất, tài liệu mới nhất, cùng với giao diện web học tập đẹp mắt, các hình ảnh động, vui nhộn.

 

  1. b) Đối với học viên: Hệ thống e-learning hỗ trợ học theo khả năng cá nhân, theo thời gian biểu tự lập, nên học viên có thể chọn phương pháp học thích hợp cho riêng mình. Học viên có thể thay đổi tốc độ học cho phù hợp, giảm căng thẳng và tăng hiệu quả học tập. Ngoài ra, khả năng tương tác, trao đổi với nhiều người cũng giúp cho việc học tập hiệu quả hơn.
  2. c) Đối với giảng viên: Giáo viên theo dõi học viên dễ dàng. Giảng viên có thể đánh giá các học viên thông qua cách trả lời các câu hỏi kiểm tra và thời gian trả lời các câu hỏi kiểm tra đó. Điều này cũng giúp giáo viên đánh giá một cách công bằng học lực của mỗi học viên.
  3. d) Đối với việc đào tạo nói chung: - E-learning giúp giảm chi phí học tập; E-learning còn giúp làm giảm tổng thời gian cần thiết cho việc học; - Hỗ trợ triển khai đào tạo từ xa”[2, tr.21 ]
  4. Tổng quan về Google Classroom (Lớp học Google) và bản chất, tính năng của nó trong e-learning

            2.1. Google Classroom là gì ?      

                            

            Ứng dụng Google Classroom là hệ thống quản lý học tập cho các trường học nhằm mục đích đơn giản hóa việc tạo, phân phối và phân loại bài tập. Nó được chính thức giới thiệu là một tính năng của Google Apps for Education vào ngày 12 tháng 8 năm 2014. Đây là một ứng dụng giành cho giáo viên để giúp họ tiết kiệm thời gian, giúp tổ chức, quản lý lớp học tốt hơn và cải tiến việc giao tiếp với người học nhằm mục đích giúp giảng viên đơn giản hóa công việc giảng dạy và tạo điều kiện cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu và làm bài tập cũng như tương tác với giảng viên một cách hiệu quả

 

Theo định nghĩa của Wikipedia, “Google Classroom” (hay Lớp học Google) là một dịch vụ web miễn phí được phát triển bởi  Google dành cho các trường học, được tích hợp với các dịch vụ Google khác như Google Drive Google Docs,  Google Sheets, Google Slides,... nhằm đơn giản hóa công việc giảng dạy của các giáo viên.

 

Học sinh có thể tham gia vào lớp học khi được giáo viên của lớp đó cung cấp một mã lớp học, hoặc tự động được thêm vào bởi nhà trường. Mặc định một thư mục mang tên Google Classroom sẽ được tạo trong Drive của học sinh đó, là nơi để học sinh nộp các bài tập trực tuyến cho giáo viên. Giáo viên có thể theo dõi quá trình học tập, chấm bài, nhận xét cũng như xếp hạng học tập cho các học sinh.

 

Ứng dụng Google Classroom dành cho thiết bị di động đã có sẵn cho hệ điều hành iOS và Android”

 

Google Classroom có các chức năng như sau:

 

- Tạo lớp học

 

+ Truy cập vào website https://classroom.google.com

 

+ Nhấp vào dấu “+” ở góc phải bên phải cùng bên cạnh tài khoản Google của bạn

 

+ Chọn “Tạp lớp học”, sau đó đặt tên cho lớp học và học phần, sau đó nhấp “Tạo”.

 

- Thêm học sinh vào lớp học

 

          Cách 1: Mời học sinh vào lớp bằng email.

          + Hãy nhấn chọn vào biểu tượng mặt người có dấu cộng.

          + Tại giao diện “Mời học viên” hãy nhập địa chỉ email của người đó vào mục Nhập tên hoặc địa chỉ email và nhấn “Mời” để gửi lời mời đi.

          + Học viên có địa chỉ email đã nhập ở trên nhận được một đường dẫn truy cập trực tiếp đến lớp học của bạn. Sau khi nhận chọn link mời và đồng ý,, người đó sẽ chính thức là thành viên của lớp học bạn đã tạo.

          Cách 2: Mời học sinh vào lớp bằng mã lớp

          + Học sinh truy cập vào website https://classroom.google.com. Sau đó nhấp vào dấu “+” ở góc phải trên cùng bên cạnh tài khoản Google. Chọn “Tham gia lớp học”, sau đó nhập mã lớp học mà giáo viên cung cấp rồi click “Tham gia”.

- Tải tài liệu lên lớp học

+ Tại “Luồng”, chấp vào “Chia sẻ đôi điều với lớp học”

+ Lựa chọn tài liệu, sau đó lựa chọn một trong các cách sau để đưa tài liệu đến sinh viên

  1. Chọn tệp từ thiết bị
  2. Tải tệp lên từ Google Drive
  3. Tải tệp từ Youtube
  4. Dán liên kết tài liệu cần tải lên

+ Nhấp “Đăng” để hoàn thành tải tài liệu lên lớp học

- Tạo bài tập

+ Chọn “Tạo” sau đó chọn bài tập hoặc câu hỏi, tài liệu,... mà giáo viên muốn yêu cầu học sinh thực hiện.

2.2. Bản chất và tính năng của Google Classroom so với các hệ thống quản lý học tập (LMS) khác

Hiện nay bên cạnh Google Classroom, có nhiều hệ thống quản lý học tập (LMS), nhiều nền tảng hỗ trợ học tập trực tuyến và hỗn hợp khác như Moodle, Nearpod, Edmodo, Coursera, Lynda, Udemy, Edumall, Kyna,..., được sử dụng/ứng dụng phổ biến và rộng rãi trên thế giới.

Chúng ta hãy tìm hiểu rõ hơn bản chất cùng những ưu thế, hạn chế của Google Classroom so với các hệ thống quản lý học tập, các nền tảng hỗ trợ trực tuyến và hỗn hợp cơ bản khác ở các điểm sau:

Google Clssroom giúp tổ chức một lớp học thông qua sự hỗ trợ 3 tính năng quan trọng là giao tiếp, giao bài tập và lưu trữ. Việc giao tiếp được thực hiện thông qua các thông báo (announcement) và các phản hồi (comment) và tích hợp thêm email. Giáo viên và học sinh có thể đính kèm thêm tài liệu, video, ảnh… ở trong các thông báo.

Ứng dụng này có những ưu thế nổi bật sau:

- Ưu điểm đầu tiên của Google Classroom đó là giao diện được thiết kế đơn giản, quen thuộc với những người đã sử dụng qua các sản phẩm khác trước đó của Google.

- Tổ chức lớp học đơn giản. Việc thiết kế khóa học, đăng ý và vận hành một lớp học trên Google Classroom diễn ra khá đơn giản và dễ dàng.

- Quản lý học sinh dễ dàng, bao gồm việc giao và nhận bài tập, quản lý thời gian nộp bài của học sinh, không dùng giấy nhưng cho phép giáo viên tạo, đánh giá và chấm điểm bài tập kiểm tra nhanh chóng.

- Sinh viên có thể xem tất cả bài tập của mình trên trang bài tập và tất cả tài liệu của lớp học được tự động lưu vào thư mục trong Google Drive.

- Được phân phối thông qua bộ công cụ “Google Apps for Education” hoàn toàn miễn phí.

Về hạn chế, Google Classroom không có nhiều tính năng hay nói cách khác là các tính năng đều được tối giản cho nhu cầu cần thiết nhất của việc triển khai lớp học. Vì vậy chưa thực sự thỏa mãn được nhiều nhu cầu của người dùng trong giảng dạy và học tập.

Đồng thời, việc bắt buộc phải sử dụng một email thuộc gói Google Education (gói ứng dụng Google dành cho giáo dục) để đăng ký vào Google Classroom cũng là một rào cản khiến cho nền tảng này không dễ để phổ biến rộng rãi.

Nhìn chung, Google Classroom là nơi tích hợp các công cụ khác nhau của Google để phục vụ cho việc dạy học. Hiện tại Google Classroom vẫn còn khá đơn giản và vẫn chưa phải là một hệ thống đủ mạnh và đầy đủ để quản trị lớp học, đặc biệt là các lớp học triển khai dưới dạng hỗn hợp.

Mặc dù vậy, với việc học trực tuyến đang là xu thế hiện nay thì việc đưa bài giảng e-learning lên lớp học Google là một sự kết hợp công nghệ thông tin tuyệt vời và mang lại hiệu quả cao cho việc nâng cao chất lượng học trực tuyến.

  1. Khái quát quá trình ứng dụng Google Classroom trong tiến trình triển khai phát triển phương thức đào tạo, học tập dựa trên công nghệ thông tin và mô hình e-learning tại Trường ĐH Hà Tĩnh

Xuất phát từ chủ trương tăng cường thời lượng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên dưới sự hướng dẫn của giảng viên trong đào tạo theo chương trình chuẩn CDIO; từ việc khẳng định tầm quan trọng của phương thức đào tạo, học tập dựa trên công nghệ thông tin và mô hình e-learning, kể từ năm học 2016-2017, Trường ĐH Hà Tĩnh đã triển khai kế hoạch ứng dụng Google Classroom vào dạy và học với việc thực hiện các hoạt động cụ thể sau:

- Tổ chức liên tục các lớp tập huấn giới thiệu tính năng tác dụng và cách sử dụng Google Classroom  cho tất cả giảng viên để 100% giảng viên có thể ứng dụng thành thạo vào dạy học

- Tập huấn về Google Classroom cho tất cả sinh viên. Bắt đầu từ năm học 2017-2018, nội dung tập huấn này được lồng ghép vào chương trình tuần sinh hoạt công dân đầu năm học.

- Cung cấp nhóm địa chỉ email đồng bộ cho tất cả cán bộ, giảng viên và sinh viên của với đuôi là “.hu.edu.vn” để tạo điều kiện thuận lợi cho việc truy cập vào các lớp học trên Google Classroom do các giảng viên thiết lập.

- Ban hành quy định bắt buộc giảng viên phải tạo lớp học trên Google Class để cung cấp đề cương môn học, tài liệu cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu và thời lượng giảng dạy cụ thể trên Google Classroom, nhất là khi giảng viên tiến hành hướng dẫn học sinh thảo luận, làm bài tập, bài kiểm tra thường xuyên và bài kiểm tra giữa học kỳ. Nhà trường quy định một tuần đọc sách vào tuần thứ 7 của học kỳ trong lịch đào tạo, đây là tuần học sinh nghỉ học ở nhà để tự học, tự nghiên cứu tài liệu, trong đó có tự học, tự nghiên cứu, làm bài tập trên Google Classroom. Từ đó,  Nhà trường đã tiến hành kiểm tra việc thực hiện của từng giảng viên bằng việc bắt buộc giảng viên phải cung cấp mã lớp cho Phòng Đào tạo vào xem lớp học đã được tạo trên Google Classroom.

- Thời lượng dạy và học trên Google Classroom cũng được Nhà trường quy định cụ với tỉ lệ tương ứng với số tín chỉ một cách cụ thể đối với các lớp mà sinh viên đăng ký học lại hay các lớp ít học sinh .

  1. Kết luận

Triển khai phát triển phương thức đào tạo, học tập dựa trên công nghệ thông tin và mô hình e-learning tại các trường đại học là xu thế tất yếu trong kỷ nguyên số hiện nay để ngày càng đổi mới phương thức, hình thức đào tạo, hướng vào nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội.

Trường ĐH Hà Tĩnh đã nhận thức đầy đủ sự cần thiết của việc triển khai phương thức đào tạo trên. Việc đưa ra chủ trương và triển khai kế hoạch ứng dụng Google Classroom vào quá trình đào tạo trong những năm qua chính là để thực hiện mục đích yêu cầu của phát triển phương thức đào tạo, học tập dựa trên công nghệ thông tin và mô hình e-learning của Trường Đại học Hà Tĩnh.

Dù mới triển khai ứng dụng Google Classroom được 3 năm nhưng kết quả đã cho thấy những hiệu quả mang lại là rất rõ rệt: Đa số giảng viên đã tích cực ứng dụng công nghệ thông tin hơn, tích cực trong xây dựng bài giảng điện tử hơn và đã khai thác tương đối tối đa các tính năng tác dụng của Google Classroom trong giảng dạy, giảng dạy có hiệu quả hơn. Sinh viên đã hứng thú hơn với việc học và có ý thức, thói quen tự học, tự nghiên cứu cao hơn; hiệu quả thu nhận kiến thức, rèn luyện kỹ năng tốt hơn.

Kết quả khảo sát đánh giá bước đầu về phản hồi của sinh viên sau khi tham gia các lớp học trên Goole Classroom do giảng viên tạo lập cho thấy những triển vọng tích cực như: đa số sinh viên cho biết việc ứng dụng Google Classroom vào dạy học hiện nay ở Trường ĐH Hà Tĩnh là rất cần thiết và hữu ích giúp sinh viên nâng cao hiệu quả học tập Đa số sinh viên hài lòng và thừa nhận các tiện ích của hình thức học này như: dễ dàng vào các lớp học, phát huy được ý thức tự học, dễ dàng xem lại bài giảng, dễ dàng tìm kiếm các tài liệu mở rất cần thiết do giảng viên đã lựa chọn và cung cấp, có thể học chủ động về thời gian và có thể tiết kiệm được thời gian.

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại như: một số giảng viên chưa ứng dụng triệt để, đúng tiến trình dạy học và nội dung các bài giảng, tài liệu học tập, bài tập đưa lên các lớp học trên Google Classroom chưa phong phú; chưa đầu tư về chất lượng, tính thiết thực của bài giảng cũng như chưa kiểm tra, giám sát, đánh giá sinh viên nghiêm túc; một số sinh viên chưa khai thác học tập hiệu quả trên Google Classroom hay chưa hào hứng, tích cực tự giác tham gia hình thức học tập này.

Để phát huy hơn nữa tính hiệu quả trong đào tạo e-learning thông qua Google Classroom và khắc phục những tồn tại trên, chúng tôi kiến nghị Nhà trường cần chỉ đạo sát sao hơn nữa Phòng Đào tạo, Phòng Thanh tra và Pháp chế, Phòng Kiểm định và Đảm bảo chất lượng cùng các khoa triển khai chủ trương, kế hoạch ứng dụng Google Classroom trong đào tạo một cách nghiêm túc hơn, đi vào thực chất hơn. Trường cần có những khảo sát, đánh giá cụ thể hơn đối với cả giảng viên và sinh viên để có thông tin phản hồi đầy đủ và khoa học hơn; qua đó có các giải pháp thiết thực hơn nhằm triển khai hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học của Trường, đáp ứng tốt hơn nhu cầu người học và nhu cầu xã hội về nguồn nhân lực chất lượng cao.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Thị Hằng, Định Thị Hạnh (11/2017), Thiết kế bài giảng e-learning trong giảng dạy cho học sinh điếc, Tạp chí Giáo dục số đặc biệt, tr.165
  2. Nguyễn Thị Thanh Hồng (8/2011), Mô hình tổ chức tự học giáo dục học cho sinh viên đại học sư phạm có sự hỗ trợ của hệ thống e-learning, Tạp chí Giáo dục số 268, tr.20
  3. Nguyễn Thị Hương Trà, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Việt Hà (2019), Tính hiệu quả của bài giảng E-Learning trong việc học tiếng Anh đối với học sinh lớp 10 - HSE, Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên, Khoa Ngoại ngữ - Trường Đại học Hà Tĩnh
  4. Chris Armour, Stephen D. Schneid, and Katharina Brandl, Writing on the board as students’ preferred teaching modality in a physiology course]
  5. Daniel Y.S. and W.W. Yi-Shun (2008), Mutlti - criteria evaluation of the web-based e-learning system: A methodology based on learner satisfaction and its applications, Computers & Education, 50, pp.894-905]
  6. Fiona Concannon, Antoinette Flynn, Mark Campbell (2005) What campus-based students thinks about the quality and benefits of e-learning
  7. Hassan M.Selim (2016), Critical success factors for e-learning acceptance: Confirmatory factor models
  8. KP Brady, LB Holcomb, BV Smith (2010), The use of alternative social netwonrking sites in higher education settings: A case study of the e-learning benefits of Ning in education
  9. M. Samir Abou El-Seoud, Islam A.T.F. Tạ-Eddin,m Naglaa Seddiek, Mahmoud M. El-Khouly, Ann Nosseir (2014), E-Learning and Students’Motivation: A Research Study on the Effect of E-Learning on Higher Education

 

                       

Rèn luyện một số kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Tác giả: ThS. Đào Thị Thúy. - Đăng trong mục: Giới thiệu

Để hoạt động rèn luyện kỹ năng sư phạm (KNSP) cho sinh viên theo đúng Thông tư số 30/2009/TT – BGDĐT ngày 20 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuẩn nghề nghiệp của người giáo viên Trung học, trong các năm học thứ ba và thứ tư sinh viên phải đến các trường THPT để tiến hành thực tập sư phạm, đây là công tác được tiến hành đều đặn theo kế hoạch đã định sẵn.

1.Rèn luyện kỹ năng thực hành sư phạm theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung học

Thứ nhất, cơ sở đào tạo phải phối hợp chặt chẽ với cơ sở thực tập (trường phổ thông) để xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch thực tập sư phạm đáp ứng với tiêu chuẩn của một người giáo viên mà thực tiễn đòi hỏi, chính việc gắn kết này sẽ giúp sinh viên có điều kiện trải nghiệm thực tế trong giảng dạy và giáo dục ở trường phổ thông. Về công tác giảng dạy: sinh viên phải đọc kỹ nội dung trong sách giáo khoa, tập soạn giáo án khi đi dự giờ của giáo viên THPT. Sau khi dự giờ phải tiến hành tổ chức rút kinh nghiệm theo nhóm. Mỗi sinh viên dự giờ ít nhất là 10 tiết, trong đó dự giờ từ 2 đến 3 tiết dạy mẫu của giáo viên dạy giỏi. Soạn 5 giáo án và tập giảng dưới sự chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn, sau mỗi giờ tập giảng có rút kinh nghiệm. Lên lớp dạy 2 tiết trong số 5 tiết đã tập giảng và được giáo viên hướng dẫn phê duyệt. Về công tác giáo dục, sinh viên lập kế hoạch công tác chủ nhiệm, với các công việc như: nhận bàn giao lớp chủ nhiệm, tìm hiểu đối tượng học sinh, có ít nhất 1 buổi đi thăm gia đình phụ huynh học sinh nhất là những em có hoàn cảnh đặc biệt. Giúp đỡ học sinh trên lớp, ở nhà, vui chơi, rèn luyện sức khỏe, hoạt động xã hội. Hướng dẫn chi đoàn sinh hoạt tập thể, tham quan, cắm trại, thực hiện tuyên truyền kỷ niệm về các ngày lế lớn có ý nghĩa như: ngày thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, ngày Quốc tế phụ nữ.

 

Thứ hai, cơ sở thực tập, tiếp nhận, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho sinh viên đến thực tập, bố trí giáo viên có năng lực và kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và giáo dục để hướng dẫn sinh viên, giúp các em được trải nghiệm thực tế về công tác rèn luyện KNNN có hiệu quả. Trong thời gian thực tập, sinh viên không chỉ dự giờ của giáo viên hướng dẫn mình mà phải dự giờ các giáo viên khác cùng bộ môn để có thêm kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh THPT.

 

Thứ ba, giữa giảng viên Đại học và giáo viên THPT cần có những phương thức hợp tác với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ chung trong công tác tổ chức, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra và đánh giá kết quả thực tập của giáo sinh. Giáo viên trường THPT có thể tham gia giảng dạy một số nội dung trong học phần Phương pháp dạy học bộ môn như: kỹ năng nắm bắt chương trình và lập kế hoạch dạy học và một số yêu cầu cơ bản khi thực hiện hình thức lên lớp; thực hiện các hoạt động khác như báo cáo chuyên đề, giới thiệu về chương trình phổ thông theo môn phụ trách. Giảng viên Đại học (nhất là giảng viên Bộ môn Tâm lí giáo dục và giảng viên phụ trách môn phương pháp giảng dạy) cần nghiên cứu kỹ bối cảnh dạy học ở trường phổ thông hiện nay, giúp sinh viên triển khai nghiên cứu, phân tích chương trình, sách giáo khoa môn học phụ trách hiện hành; tăng cường thực hành các kỹ năng như: kỹ năng tổ chức, quản lí dạy học, kỹ năng của một giờ lên lớp, kỹ năng lựa chọn ngôn ngữ, đặt câu hỏi, đưa ra các tình huống điển hình trong thực tiễn phổ thông vào bải giảng, kỹ năng giáo dục tích hợp trong các giờ lý thuyết, gắn lý thuyết với thực hành.

 

Có thể nói, rèn luyện KNNN cho sinh viên sư phạm được phát huy hiệu quả nhất là khi sinh viên được thực hành, được vận dụng lí thuyết vào trong thực tiễn, được tạo điều kiện tốt nhất trong sự phối hợp của cơ sở đào tạo và cơ sở thực tập, của giảng viên đại học với giáo viên phổ thông, để các em sớm bộc lộ được khả năng của mình về mọi mặt từ phẩm chất đạo đức, tri thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, là con đường dẫn tới sự thành công trong sự nghiệp dạy học bộ môn và đáp ứng đúng Chuẩn nghề nghiệp của người giáo viên Trung học.

 

2.Rèn luyện kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa theo yêu cầu môn học

 

  Hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa là sự tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động dạy học trong giờ chính khóa, hình thức này được tiến hành ngoài phòng học và giờ học nhưng vẫn thuộc vào chương trình môn học. Đặc trưng cơ bản của hình thức dạy học này là giúp sinh viên thâm nhập thực tế cuộc sống bằng việc quan sát thực tiễn để rút ra những bài học cần thiết, củng cố tri thức, tăng thêm niềm tin vào kiến thức khoa học của bộ môn. Ngoài ra hình thức dạy học này còn giúp sinh viên biết rèn luyện các phẩm chất tư duy quan sát, tìm tòi, phân tích, so sánh, tổng hợp các dữ kiện và rút ra kết luận từ sự khái quát thực tế. Bởi sự hỗ trợ với hình thức ngoài giờ chính khóa sẽ giúp người học thấy được môn học phong phú, sinh động, hấp dẫn, từ đó quá trình dạy học bộ môn có thêm cơ hội để đáp ứng và hoàn thành được mục tiêu đào tạo.

 

Chẳng hạn, với hình thức hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khoá trong dạy học bộ môn GDCD ở trường THPT cần được thực hiện thông qua các nội dung như: tham quan, học tập, nghiên cứu thực tế xã hội; tập hợp, sưu tầm, triển lãm và đánh giá những tư liệu dạy học; thi tìm hiểu về các vấn đề mà xã hội đang quan tâm như: bảo vệ môi trường, chính sách dân số, việc làm, các văn bản pháp luật; tìm hiểu về các tệ nạn xã hội; vấn đề chấp hành pháp luật an toàn giao thông; tham gia diễn đàn, buổi hội nghị, buổi nói chuyện thời sự, chuyên đề có nội dung phù hợp với môn học.

 

Khi thực hiện hình thức hoạt động ngoài giờ chính khóa cho người học với chủ đề tìm hiểu về vấn đề bảo vệ môi trường. Giáo viên cần tiến hành theo trình tự các bước sau:

Đưa ra chủ đề ngoại khóa

 

Chỉ ra mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, thái độ của chủ đề ngoại khóa

 

Nội dung tiến hành ngoại khóa: Giáo viên cho người học tìm hiểu sơ lược về chủ đề ngoại khóa, với các nội dung: Khái quát chung về tình hình tài nguyên, môi trường; chỉ rõ tác hại về các nguy cơ của việc khai thác, sử dụng không hợp lí tài nguyên, môi trường; phân tích nguyên nhân, hậu quả; trên cơ sở đó đề xuất biện pháp khắc phục và đề xuất hướng giải quyết có hiệu quả nhất.  Yêu cầu người học làm bản báo cáo thu hoạch. Kết thúc thời gian ngoại khóa, giáo viên yêu cầu người học thuyết trình bài báo cáo trước tập thể lớp học, các thành viên trong nhóm, lớp phản biện, bổ sung, đóng góp ý kiến vào bản thuyết trình. Giáo viên nhận xét, đánh giá và công bố kết quả sản phẩm của người học.

 

Như vậy, hoạt động ngoài giờ chính khóa được tổ chức không chỉ đơn thuần để hỗ trợ nội dung chương trình chính khóa mà còn nhằm mục đích rèn luyện các kỹ năng cơ bản, quan trọng giúp SV tự tin trong thuyết trình, làm việc theo nhóm, quản lí, xử lí tình huống, giải quyết vấn đề, giao tiếp và tạo ra các mối quan hệ tương tác khác. Qua đó sinh viên sẽ trưởng thành hơn, biết vận dụng có hiệu quả hơn các kỹ năng vào trong học tập, cuộc sống và công việc tương lai.

 

3. Kết luận

Rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm là một nội dung vô cùng quan trọng trong công tác đào tạo giáo viên của các trường Đại học hiện nay. Nhờ rèn luyện KNNN sinh viên sẽ được tiếp thu kiến thức một cách trọn vẹn (cả lí thuyết lẫn thực hành) nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Qua đó, sinh viên sẽ ý thức được nghề mình đã chọn và có quyết tâm không ngừng tự hoàn thiện bản thân để trở thành người giáo viên giỏi. Với sự nỗ lực học nghề của sinh viên, sự tích cực hướng dẫn rèn nghề của giáo viên, sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với cơ sở thực hành giáo dục phổ thông - là những giải pháp hữu hiệu nhất, giúp tất cả sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường không chỉ giỏi về tri thức chuyên môn mà còn thành thạo trong thực hành KNNN, thích ứng được mọi hoàn cảnh về khả năng làm việc ngày càng cao và đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Vũ Đình Bảy, Đặng Xuân Điều, Nguyễn Thành Minh, Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường trung học phổ thông, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010.

 [2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn áp dụng chuẩn nghề nghiệp GV Trung học vào đánh giá GV, NXB Đại học sư phạm, 2009.

[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư ban hành quy định quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa (Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 02 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

 [4]. Bộ GD& ĐT, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các trường, khoa sư phạm với các trường Phổ thông và Mầm non trong công tác đào tạo, bối dưỡng giáo viên chuẩn bị triển khai chương trình giáo dục sau năm 2015. Thái nguyên, 2013.

 [5] Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, Kỷ yếu hội thảo quốc tế, Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phổ thông, cán bộ quản lí cơ sở giáo dục phổ thông và giảng viên sư phạm, Nxb Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2017.

 

 

 

Suy nghĩ về từ "Đoàn kết" được lặp lại nhiều lần trong Di chúc của Bác

Tác giả: TS. Nguyễn Thị Bích Hằng. - Đăng trong mục: Giới thiệu

 Trường Đại học Hà Tĩnh cùng với các trường đại học trong cả nước hồ hởi, phấn khởi bước vào năm học mới (2019- 2020). Một năm nhiều triển vọng song, cũng nhiều thách thức đối với thầy trò trường ta. Cùng thời gian này, toàn Đảng, toàn dân ta đang long trọng kỷ niệm 50 năm Di chúc của Bác (1969-2019).


Di chúc của Bác, tài sản vô cùng quý báu của Đảng ta, dân tộc ta có ý nghĩa lịch sử và giá trị lý luận, giá trị thực tiễn sâu sắc, không chỉ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ mà cả trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Có rất nhiều tư tưởng mang tính chỉ đạo trong Di chúc của Bác đang là kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng ta. Nếu chỉ xem xét riêng tư tưởng chỉ đạo của Bác về vấn đề đoàn kết cũng thấy quan điểm chỉ đạo này đúng đắn và có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong thời đại ngày nay. Bài viết bộc bạch những suy nghĩ về từ “đoàn kết” được lặp lại nhiều lần trong Di chúc của Bác.

 

1.Từ đoàn kết được lặp lại nhiều lần trong Di chúc của Bác

 

Đoàn kết là tư tưởng lớn, xuyên suốt trong cuộc đời cách mạng của Bác Hồ. Lời giáo huấn nổi tiếng của Bác: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết -Thành công, thành công, đại thành công đã trở thành phương châm hành động của toàn Đảng, toàn dân ta và thực sự đã phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết dân tộc để giành thắng lợi trong mọi thời kỳ lịch sử. Theo tư tưởng của Bác, đoàn kết là sức mạnh, là cội nguồn của mọi chiến thắng, của mọi thành công. Trước khi vĩnh biệt thế giới này để về cõi vĩnh hằng, trong bản Di chúc thiêng liêng để lại cho Đảng ta, dân ta và cho hậu thế muôn đời, Bác căn dặn nhiều điều, trong đó Người đặc biệt nhấn mạnh tới vấn đề đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế.

 

Trong quá tình dẫn dắt Cách mạng Việt Nam, Bác đã dùng rất nhiều lần từ đoàn kết trong mọi lúc, mọi hoàn cảnh, mọi giai đoạn cách mạng để nhắc nhở mọi người dân, mọi Đảng viên. Trong lời dặn dò cuối đời với Đảng và dân, Bác đã nhắc lại nhiều lần từ đoàn kết. Thống kê trong Bản Di chúc, Bác đã nhắc đi nhắc lại từ đoàn kết tới 8 lần, một tần suất từ được lặp lại nhiều nhất trong các từ lặp lại của Bản Di chúc ngắn gọn, súc tích của Bác. Điều đó nói lên rằng, Bác đã quan tâm và coi trọng  giá trị lớn lao của đoàn kết tới nhường nào.

 

Trong Di chúc, có ba đối tượng được Bác dặn dò trong 8 từ đoàn kết là toàn Đàng, toàn  dân và  quốc tế.  Đó là, những đối tượng chủ lực có tính chất quyết định cho thắng lợi của cuộc cách mạng trước đây và cả sau này.

 

Về đoàn kết trong Đảng

 

Chỉ trong 10 dòng nói về Đảng, Bác đã nhắc đi nhắc lại tới 5 lần từ đoàn kết để nhấn mạnh sự đoàn kết trong Đảng: “Nhờ đoàn kết (1) chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết (2), tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác… Đoàn kết (3) là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết (4) nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình… Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết (5) và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” [4 ].

 

Về đoàn kết toàn dân

Chốt lại toàn bộ ước nguyện của Bác ở cuối bản Di chúc, Bác dùng 1 từ đoàn kết nhưng bao hàm rất nhiều ý tứ sâu sắc: “ Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết (6) phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” [4].

 

Về đoàn kết quốc tế

 

Bác rất đau lòng về sự bất hòa và những suy thoái của phong trào Cộng sản quốc tế vào thời đó. Bác dặn dò Đảng ta phải ra sức góp phần khôi phục lại khối đoàn kết quốc tế và Bác tin tưởng về sự đoàn kết của phong trào Cộng sản quốc tế. Bác dùng 2 từ đoàn kết trong câu: “Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết (7) giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình. Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết (8) lại” [4].


 2. Suy nghĩ về tư tưởng của từ đoàn kết  trong di chúc của Bác   

       

Về đoàn kết trong Đảng

 

Tư tưởng đoàn kết trong Đảng của Bác phải được hiểu là sự đoàn kết nhất trí, thống nhất trong Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng. Đoàn kết nhất trí trong Đảng phải được xây dựng, bồi đắp trên nền tảng chủ nghĩa Marx-Lênin. Đồng thời, đoàn kết trong Đảng phải dựa trên cơ sở đường lối, chính sách  theo đúng những nguyên tắc của Đảng. Muốn có sự đoàn kết, nhất trí vững chắc, trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi; Đảng viên phải nêu cao kỷ luật tự giác, phải thực hiện tự phê bình và phê bình. Trong đó, tự phê bình và phê bình là nguyên tắc sống còn trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. Theo tư tưởng của Bác, phê bình và tự phê bình cần có lý, có tình; phê bình một cách chân thành, thẳng thắn, trung thực, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, giúp nhau cùng tiến bộ, trên cơ sở cùng phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng chung của Đảng và dân tộc.

 

Về đoàn kết toàn dân

 

Theo tư tưởng của Bác, đoàn kết toàn dân là sức mạnh, là cội nguồn của chiến thắng, của thành công. Tư tưởng của Bác đã thể hiện thành hành động cụ thể trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, nhằm phát huy cao độ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của nhân dân, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Cụ thể, chúng ta đã giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên, các tầng lớp trong xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của cách mạng trước đây và công cuộc hội nhập ngày nay.

 

Về đoàn kết quốc tế

 

Tư tưởng của Bác về đoàn kết quốc tế là định hướng quan trọng cho quan hệ đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, để Việt Nam luôn đóng góp xứng đáng vào nền hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới. Đoàn kết quốc tế trở thành một chân lý, một phương châm hành động tất yếu, phù hợp với quy luật và sự phát triển của cách mạng. Nhân dân Việt Nam có nghĩa vụ đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới. Thành quả của cách mạng trước đây và công cuộc hội nhập ngày nay là tổng hợp sức mạnh nội lực của toàn Đảng, toàn dân ta và ngoại lực là  sức mạnh của tình đoàn kết quốc tế.

 

Tóm lại, tư tưởng lớn về sức mạnh đoàn kết, trong đó có đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân đoàn kết quốc tế trong Di chúc của Bác là kim chỉ nam cho mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Thấm nhuần và thực hiện đúng theo tư tưởng chỉ đạo này, cuộc chống xâm lược trước đây của chúng ta đã thắng lợi vẻ vang thì, trong công cuộc xây dựng phát triển kinh tế thời kỳ hội nhập chắc chắn chúng ta sẽ đạt được những thành quả vĩ đại.

                                            Tài liệu tham khảo

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[2]. Émile Durkheim (2012), Các quy tắc của phương pháp xã hội học, Tủ sách Tinh Hoa, Nxb Tri thức, Hà Nội.

[3]. Hồ Chí Minh (1969), Hồ Chí Minh tuyển tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[4]. Hồ Chí Minh (1969), Bản Di chúc. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.