Uninature PT - шаблон joomla Скрипты

Tìm hiểu khái niệm “quyền con người”

Tác giả: TS. Nguyễn Thị Thanh Nhàn - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ghi nhận các quyền thiêng liêng của con người. Tiếp đó là các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 không chỉ thừa nhận và bảo đảm đầy đủ các quyền con người, quyền công dân phù hợp với luật pháp quốc tế mà còn khẳng định rõ: Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, có trách nhiệm bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân. Đặc biệt khái niệm quyền con người lần đầu tiên được được đưa vào Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) trong một chế định cụ thể. Tuy vậy, hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về quyền con người.

Có rất nhiều định nghĩa về quyền con ng­ười (nhân quyền), mỗi định nghĩa là một sự biểu hiện khác nhau ở góc độ nhìn nhận về vấn đề nhân quyền. Tuy nhiên, tổng hợp lại có thể chia thành ba nhóm quan niệm chủ yếu về quyền con ng­ười như­ sau:

- Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con ng­ười là một thực thể tự nhiên, nên quyền con ng­ười phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền", nghĩa là quyền con ng­ười, quyền lợi của con ng­ười với tư­ cách là ngư­ời, gắn liền với cá nhân con ng­ười, không thể tách rời.

Quan điểm này đ­ược các đại biểu tư­ t­ưởng của giai cấp tư­ sản ở thế kỷ XVII, XVIII như­ Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên. Tr­ường phái này cho rằng, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà n­ước. Xuất phát từ quan điểm này, Jacques Mourgon (giáo sư­ đại học khoa học xã hội Toulouse) đ­ưa ra định nghĩa: "Quyền con ngư­ời là những đặc quyền đư­ợc các quy tắc điều khiển mà con ng­ười giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền" [5, tr. 12]. Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến quyền con ngư­ời ở khía cạnh tự nhiên của nó.

- Quan niệm thứ hai: Trái với quan niệm thứ nhất, quan niệm này lại chỉ đặt con ng­ười và quyền con ngư­ời trong mối quan hệ xã hội. Quan niệm này cho rằng, con ngư­ời chỉ là một thực thể xã hội, nên quyền của nó chỉ đ­ược xác định trong mối tương quan với các thực thể xã hội khác và vì là quan hệ xã hội nên nó đ­ược chế độ nhà n­ước, pháp luật điều chỉnh bảo vệ.

Quan niệm này có tính tích cực khi coi quyền con ng­ười là một khái niệm có tính lịch sử, đặt con ng­ười trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì con ng­ười là thực thể của xã hội, có mối quan hệ phổ biến với xã hội nên quyền con ng­ười cũng luôn gắn liền với đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh chống bạo lực, chống bất công trong xã hội. Cơ sở của quyền con ngư­ời ở đây chính là trình độ phát triển của nền kinh tế, văn hóa, xã hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội quyết định.

- Quan niệm thứ ba: Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề quyền con ng­ười. Xuất phát từ quan niệm coi con ngư­ời vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con ng­ười: "Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [4, tr. 12].

Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con ng­ười là "động vật xã 
hội" [4, tr. 855] có khả năng "tái sinh ra con ngư­ời", con ng­ười là động vật cao cấp nhất trong quá trình tiến hóa. Do đó, về mặt này quyền con ng­ười trư­ớc hết là một thuộc tính tự nhiên. Quyền con ng­ười không phải là một "tặng vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà nư­ớc mà quyền con người trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản chất tự nhiên, đ­ược thể hiện ở quyền đư­ợc sống, quyền tự do, quyền đư­ợc sáng tạo, phát triển, quyền đ­ược đối xử như­ con ng­ười, xứng đáng với con ngư­ời.

Xét về mặt xã hội, con ng­ười mặc dù là động vật cao cấp nhất của tự nhiên, nh­ưng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp, con ngư­ời đã sống thành bầy đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội. Trong luận c­ương thứ VI về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ng­ười là tổng hòa những quan hệ xã hội" [4, tr. 21]. Do đó xét về khía cạnh xã hội, thì "quyền con người, ngay từ khi có xã hội loài ngư­ời, bên cạnh bản tính tự nhiên còn in đậm bản tính xã hội" [4, tr. 13]. Theo Mác: "Quyền con ngư­ời là những đặc quyền chỉ có ở con ng­ười mới có, với tư­ cách là con ng­ười, là thành viên xã hội loài ngư­ời" [3, tr. 14].

Khi xã hội hình thành giai cấp, hình thành nhà n­ước đã tạo ra những chuyển biến có tính "bư­ớc ngoặt" trong sự biến đổi mối quan hệ tư­ơng quan giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của quyền con ng­ười. Đi kèm xã hội có giai cấp là mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp; do đó, trong điều kiện xã hội có giai cấp thì bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp. Và ngay cả bản tính tự nhiên, những giá trị phổ biến của quyền con ng­ười cũng tất yếu chịu sự chi phối của giai cấp thống trị xã hội.

Mặt khác, quyền con ngư­ời, kể cả quyền tự nhiên, bẩm sinh còn bị ràng buộc, chi phối vào chính khả năng khám phá chinh phục tự nhiên của chính con người, nghĩa là phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của con ngư­ời, sự phát triển của lực l­ượng sản xuất, trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Con ng­ười càng có khả năng chế ngự, chinh phục thiên nhiên bao nhiêu thì tự do, quyền con ng­ười ngày càng đ­ược mở rộng, ngày càng đ­ược đảm bảo bấy nhiêu.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền con ng­ười không phải chỉ là phép cộng đơn giản đối với hai quan niệm về quyền con ng­ười nêu trên, mà từ phân tích nêu trên cho thấy bản chất hai mặt tự nhiên và xã hội của quyền con người có những thuộc tính phức tạp và luôn có sự thống nhất giữa hai mặt đối lập.

Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa khác nhau về quyền con người. Học giả Nguyễn Bá Diến cho rằng: "Quyền con ngư­ời là các khả năng của con ngư­ời được đảm bảo bằng pháp luật (luật quốc gia và luật quốc tế) về sử dụng và chi phối các phúc lợi xã hội, các giá trị vật chất, văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã hội trong phạm vi luật định và quyền quyết định các hoạt động của mình và của ng­ười khác trên cơ sở pháp luật" [1, tr. 34].  Định nghĩa này mới chỉ đề cập đến quyền con ng­ười với tư­ cách là phạm trù luật học.

Có một định nghĩa đang đ­ược sử dụng phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền ở n­ước ta hiện nay: "Nhân quyền (hay quyền con ng­ười) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con ng­ười, với tư­ cách là thành viên cộng đồng nhân loại, đ­ược thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [2, tr. 10].

Như vậy, có thể hiểu quyền con ng­ười là một phạm trù tổng hợp, vừa là "chuẩn mực tuyệt đối" mang tính phổ biến, vừa là "sản phẩm tổng hợp của một quá trình lịch sử lâu dài luôn luôn tiến hóa và phát triển". Quyền con ngư­ời "không thể tách rời", đồng thời cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội... Quyền con ng­ười là một tổng thể những quyền gắn bó với nhau trong mối t­ương quan biện chứng, đó là quyền cá nhân và quyền của dân tộc cộng đồng, quyền chính trị - dân sự và kinh tế văn hóa xã hội, quyền của cá nhân đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội...

Có thể thấy, mặc dù cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều cách nhìn nhận khác nhau về quyền con người, nhưng có một điều rõ ràng rằng quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch sử. Trong thời đại ngày nay, quyền con ng­ười không thể tách khỏi hòa bình, dân chủ và phát triển.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Bá Diến (1993), Về quyền con người - trong tập chuyên khảo "quyền con người, quyền công dân", Tập 1, Trung tâm nghiên cứu quyền con người - Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr. 30 - 56.

2. Học viện CTQG Hồ Chí Minh (1993), Tập bài giảng lý luận về quyền con người, Nxb Sự thật, Hà Nội

3. C.Mác - Ph.Ăngghen (1998), Về quyền con người, Nxb CTQG, Hà Nội.

4. C.Mác - Ph.Ăngghen (1986), Toàn tập, tập III, Nxb Sự thật, Hà Nội.

5. Jacques Mourgon (1995), Quyền con người, Nxb Đại học Pháp, Hà Nội.

6. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vai trò của Chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp Nga qua tác phẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga" của V. Lênin

Tác giả: Nguyễn Thị Hà – Khoa Lý Luận Chính Trị - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Tác phẩm "sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga" ra đời 5 năm sau khi quyển III bộ "Tư bản" của Mác được công bố. Tác phẩm trình bày sự lớn mạnh của nông nghiệp thương phẩm trong thời kỳ sau cải cách, vạch ra những đặc điểm sản xuất của sản xuất hàng hoá của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp, "chỉ ra tính chất tiến bộ của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp so với những tàn tích phong kiến cũng như so với sản xuất nhỏ. Tác phẩm đã giáng một đòn chí mạng vào học thuyết về tính bền vững của kinh tế tiểu nông”[2; 8].

Vấn đề chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp Nga được xem xét trên hai phương diện. Trước hết, xét trên kết cấu những mối quan hệ kinh tế - xã hội trong nông dân và địa chủ hình thành sau thời kỳ cải cải cách. Bộ phận nông dân đã phân hoá một cách mau chóng thành hai bộ phận: giai cấp tư sản nông thôn có số lượng ít nhưng vững mạnh do địa vị kinh tế của nó và giai cấp vô sản nông thôn. Quá trình "phi nông dân hoá đó" đi đôi với quá trình những kẻ chiếm hữu ruộng đất tiến từ chế độ kinh doanh theo lối lao dịch sang lối kinh doanh TBCN. Sau đó xem xét những hình thức của sự chuyển biến của nông nghiệp sản xuất hàng hoá để làm điểm xuất phát.

Qua những mối quan hệ kinh tế - xã hội của từng hình thức chuyển biến nông nghiệp và những quan hệ xã hội của riêng từng hình thức chủ yếu của ngành thương phẩm ta thấy:

Thứ nhất: Sự tiến triển của ngành nông nghiệp cải cách là ngày càng mang tính chất thương phẩm kinh doanh. Đối với các trang trại tư nhân thì điều đó là rõ ràng nhưng đối với nông nghiệp của nông thôn thì không dễ nhận ra bởi việc sử dụng lao động làm thuê không phải là một đặc trưng tuyệt đối cần thiết của tầng lớp tư sản nhỏ ở nông thôn và bởi tư sản nông thôn thường bị lẫn với những người nông dân được chia một mảnh đất con. Đó chính là một trong những nguyên nhân gây ra sự tồn tại dai dẳng những lý luận phân biệt giai cấp Tư sản nông thôn với giai cấp Tư sản trong "nông dân" [2; 385].

Hai là: Do bản chất của ngành nông nghiệp không chia thành những ngành tách biệt lẫn nhau tuỳ từng trường hợp mà chỉ sản xuất một loại hàng hoá nào đó cho thị trường cho nên việc chuyển biến thành sản xuất hàng hoá đã diễn ra một cách rất đặc biệt không giống những quá trình diễn ra trong công nghiệp. Các hình thức của nông nghiệp thương phẩm là hết sức khác nhau không những ở vùng này sang vùng khác mà còn khác từ doanh nghiệp này đến doanh nghiệp khác.

Ba là: Sự phát triển của nông nghiệp thương phẩm tạo ra thị trường trong nước của CNTB bởi chuyên môn hoá nông nghiệp dẫn tới trao đổi giữa các vùng, các doanh nghiệp với nhau. Nông nghiệp càng đi vào lưu thông hoá dân cư nông nghiệp lại càng đòi hỏi những sản phẩm của công nghiệp chế biến cho nhu cầu cá nhân và bởi giai cấp tư sản sản xuất tăng lên không một chủ nào ở nông thôn lại có thể tiến hành được một nền nông nghiệp thương phẩm mới và cuối cùng là vấn đề nẩy ra yêu cầu về nhân công.

Bốn là: CNTB mở rộng và làm cho sâu sắc lên rất nhiều những mâu thuẫn trong nội bộ dân cư nông thôn. Những mâu thuẫn mà không có chúng thì nói chung phương thức sản xuất TBCN không thể tồn tại được. Tuy nhiên, vai trò lịch sử của nó ở Nga biểu hiện ở chỗ:

Thứ nhất, CNTB biến người nông dân từ chỗ một mặt là "chúa của một lãnh địa" và mặt khác là một nông dân gia trưởng bị lệ thuộc thành một nhà công nghiệp giống như tất cả mọi nghiệp chủ khác trong xã hội hiện đại. CNTB lần đầu tiên đã cắt đứt mối quan hệ ràng buộc chế độ sở hữu ruộng đất vào một đẳng cấp do đó nó đã biến ruộng đất thành hàng hoá. Sản phẩm của nông dân đem bán đi trở thành một đối tượng để tính toán trong thị trường địa phương, thị trường toàn quốc và thị trường quốc tế. Như vậy là vĩnh viễn xoá bỏ được tình trạng cách biệt với thế giới bên ngoài trước kia của người nông dân. CNTB đã là "một động lực, nó ném cảnh sống điền viên vào trong sự vận động của lịch sử" [2; 389].

Thứ hai là CNTB nông nghiệp lần đầu tiên phá huỷ tình trạng trì trệ ngàn đời của nền nông nghiệp Nga, thúc đẩy rất mạnh việc cải tạo kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất của lao động xã hội - điều này CNTB trong vài chục năm đã làm được hơn nhiều thế kỷ của lịch sử trước đây. Tính thuần nhất của kinh tế tự nhiên đã nhường chỗ cho tính muôn màu của hình thức nông nghiệp thương phẩm, tính cố định của chế độ canh tác xưa kia đã bị những phương thức canh tác mới đập tan. Những thay đổi đó gắn liền mật thiết với sự chuyên môn hoá nông nghiệp. Tuỳ theo từng trường hợp của cải tạo kỹ thuật nông nghiệp mà làm cho nông nghiệp thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp gia trưởng hay chế độ lao dịch gia trưởng. Sự xuất hiện những loại riêng biệt của nông nghiệp thương phẩm khiến cho những cuộc khủng hoảng TBCN trong nông nghiệp thúc đẩy mạnh hơn nữa nền sản xuất và việc lao động hoá xã hội. Và thứ ba là CNTB lần đầu tiên thiết lập ở Nga nền sản xuất nông nghiệp quy mô lớn dựa trên cơ sở sử dụng máy móc và hợp tác rộng rãi của cá nhân.

CNTB lần đầu tiên đã phá huỷ bức tường "trung cổ công xã nông thôn"[2; 391] cỏn con. CNTB đã phá tan tình trạng cách biệt và biêt lập địa phương, sự phân chia trung cổ manh mún giữa những người dân cày thay thế bằng sự phân chia lớn phạm vi toàn quốc, sự phân chia thành những gia cấp có địa vị khác nhau trong toàn bộ hệ thống TBCN ở Nga. Lần đầu tiên ở nước Nga CNTB nông ngiệp đã phá vỡ tận gốc chế độ lao dịch và quan hệ phụ thuộc về thân thể của nông dân. Bởi vậy cho nên đem chế độ lao động thuê tự do thay thế cho chế độ lao dịch là một công lao lớn của chủ nghĩa tư bản ở Nga.

Tóm lại, vai trò lịch sử tiến bộ của CNTB nông nghiệp Nga ở chỗ nó đã xã hội hoá sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp từ chỗ chỉ là một đặc quyền của đẳng cấp bề trên hay một thứ khổ dịch của đẳng cấp bên dưới trở thành một nghề công thương nghiệp thông thường. Sản phẩm lao động của người nông dân trở thành một đối tượng hàng hoá cho sự tính toán trên thị trường. Nghề nông thuần nhất trở thành nghề nông thương phẩm. Tính biệt lập địa phương và phân tách của tiểu nông đi đến chỗ tiêu diệt. Các hình thức nô dịch và lệ thuộc về thân thể đã nhường chỗ cho những giao dịch không có sự ràng buộc về mặt thân thể. Tất cả những viêc đó đều là những mắt xích của quá trình xã hội hóa lao động nông nghiệp. Tuy nhiên nó cũng ngày càng làm cho mâu thuẫn giữa tình trạng vô chính phủ của những biến động thị trường, giữa tính tập thể của nông nghiệp lớn TBCN trở nên gay gắt. Và bài học của lịch sử - bài học mà ta có thể rút ra từ những khảo sát về nông nghiệp hợp lý không thể dung hoà với CNTB.

 Tài liệu tham khảo:

1. Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác- Lênin, NXB Chính Trị Quốc Gia

2. V.I. Lênin toàn tập (2005), tập 3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

Hội nghị Cán bộ viên chức Khoa Lý luận chính trị: Dân chủ, trách nhiệm

Tác giả: Khoa Lý Luận Chính Trị - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Vào chiều ngày 15/10/2013, Khoa Lý luận chính trị đã tổ chức Hội nghị Cán bộ công chức năm học 2014-2014. Hội nghị có sự tham gia của toàn thể cán bộ công chức trong Khoa.

Tại Hội nghị, đồng chí Trần Thị Kim Hiền - Trưởng Khoa đã trình bày Báo cáo Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Cán bộ viên chức năm học 2012-2013 và phương hướng, nhiệm vụ hoạt động năm học 2013-2014.

Với tinh thần làm việc dân chủ và cởi mở, Hội nghị đã thống nhất khẳng định những kết quả đạt được trong năm học 2012-2013, đồng thời tập trung phân tích rõ những tồn tại hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ năm học 2012-2013, đặc biệt là những hạn chế trong công tác chuyên môn, công tác học sinh, sinh viên, công tác văn phòng và công tác đoàn thể. Từ đó, Hội nghị tập trung thảo luận để đưa ra các giải pháp khắc phục những hạn chế trên trong năm học mới 2013-2014.

Hội nghị cũng đã tập trung thảo luận các nội dung trong phương hướng, nhiệm vụ hoạt động năm học 2013-2014 như: Củng cố mối quan hệ đoàn kết trong đơn vị, xác định rõ chức năng nhiệm vụ của cá nhân và tổ chức, xây dựng kế hoạch thiết thực và có trọng tâm, thực hiện kế hoạch đúng quy trình và thời hạn, đảm bảo hoàn thành định mức lao động, phấn đấu đạt danh hiệu thi đua đã đăng ký. Hội nghị đã thống nhất cao các chỉ tiêu phấn đấu trong năm học 2013-2013, như: 100% giảng viên đảm bảo hoàn thành định mức giảng dạy, thực hiện 2 tiết thao giảng/năm học và hồ sơ chuyên môn xếp loại tốt trở lên; mở rộng hoạt động nghiên cứu khoa học học ra khỏi cấp khoa, cấp trường;100% giảng viên đảm bảo hoàn thành định mức nghiên cứu khoa học, tự học, tự bồi dưỡng và đảm bảo đạt yêu cầu trong kỳ sát hạch về tin học và ngoại ngữ do trường tổ chức…

Hội nghị còn được nghe báo cáo tổng kết công tác công đoàn năm 2012-2013 do đồng chí Phạm Thanh Huyền, Chủ tịch công đoàn Khoa trình bày.

Cuối Hội nghị, toàn thể cán bộ, giảng viên trong Khoa đã dành nhiều thời gian thảo luận, góp ý cho Dự thảo báo cáo Hội nghị cán bộ viên chức của Nhà trường năm học 2013-2014.