Uninature PT - шаблон joomla Скрипты

Bàn về vai trò của truyền thông và truyền thông đại chúng với việc quảng bá thương hiệu các trường Đại học

Tác giả: ThS. Phạm Huy Thông - Khoa Lý luận Chính trị - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Trong tiếng Anh, "Communication" có nghĩa là truyền thông - sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc. Còn theo tiếng La tinh, nó có nghĩa là cộng đồng. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa cá nhân vàxã hội. Hay truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm,kỹ năngnhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức.

Còn truyền thông đại chúng được hiểu là những phương pháp truyền thông chuyển tải thông điệp đến những nhóm đông người. Có nhiều phương tiện truyền thông đại chúng khác nhau, phổ biến nhất là Phát thanh, Truyền hình, Báo chí và Internet. Thế nên, trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, truyền thông đại chúng có có vai trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội.

Nếu biết tận dụng tối đa vai trò của nó, doanh nghiệp có thể vừa “đóng đinh” sản phẩm của mình trong đầu người tiêu dùng vừa nâng cao uy tín và vị thế của mình trên thương trường. Còn đối với các trường Đại học, vai trò của truyền thông ngày đại chúng càng trở nên thiết yếu, bởi nhờ nó mà thương hiệu của trường mới được nhiều người biết đến, qua đó góp phần vào việc thu hút nhiều thí sinh mỗi khi kỳ thi tuyển đại học diễn ra; rộng hơn là lôi cuốn cán bộ giỏi đến làm việc và mở rộng hợp tác đào tạo quốc tế với các trường đại học trên thế giới.

Nắm bắt được tầm quan trọng của truyền thông và truyền thông đại chúng, các đại học trên toàn cầu, từ những đại học danh tiếng như Havard đến những trường đại học ít tên tuổi như Loughborough, hay thậm chí cả những trường đại học nhỏ ở các nước đang phát triển như đại học Birzeit (Palestine), đại học nào cũng có một bộ phận truyền thông chuyên trách quảng bá thương hiệu và hình ảnh của trường.

Còn tại Ấn Ðộ, Hiệp hội các đại học của nước này đã thành lập hẳn một Hội đồng truyền thông và quan hệ công chúng chuyên giúp đỡ và tập huấn các cán bộ phụ trách công việc quảng bá hình ảnh trường tại các đại học của nước này. “Mỗi Đại học đều có cách làm truyền thông theo cách của riêng họ, nhưng để khai thác hết tiềm năng của giáo dục đại học tại Ấn Ðộ, cần phải có một chiến lược lâu dài nhằm phát huy hết ảnh hưởng của truyền thông đại chúng trong lĩnh vực giáo dục”, TS. Vishwanath Pandey, Trưởng phòng truyền thông, đại học Banaras Hindu, một trong những thành viên sáng lập ra Hội đồng truyền thông, đưa ra nhận định.

Ở Việt Nam, những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa, các đại học đã bắt đầu quan tâm đến thương hiệu của mình. Các trường đại học đã tổ chức các cuộc thi làm logo hay in những cuốn lịch được phát cho sinh viên vào các dịp Tết có hình logo đó. Vào những dịp kỷ niệm, lễ tuyên dương, giải thi đấu thể thao, hội diễn văn nghệ, nhà trường không chỉ tổ chức nội bộ nữa mà bắt đầu được thông cáo rộng rãi trên báo chí và truyền hình. Thậm chí, một số trường còn tạo slogan ấn tượng giống như các doanh nghiệp.

Tuy nhiên, trong thời buổi bùng nổ công nghệ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của Internet thì từng đấy vẫn là chưa đủ để quảng bá thương hiệu và hình ảnh của trường đến với đông đảo công chúng. Logo của các trường còn quá đơn giản, chưa tạo được ấn tượng, còn các sự kiện của trường thì chỉ đơn giản là đưa tin, chưa tạo ra được một điểm nhấn thực sự rõ nét đối với công chúng. Nói một cách khác, các trường đại học vẫn chưa xây dựng được một chiến lược truyền thông quảng bá thương hiệu và hình ảnh của mình một cách rõ ràng.

Theo số liệu thống kê, cả nước hiện có 450 trường Đại học, cao đẳng. Vì vậy, để các bậc phụ huynh, thí sinh, công chúng biết đến thương hiệu của nhà trường thì ngoài chất lượng đào tạo, đội ngũ giảng viên, công tác nghiên cứu khoa học, công tác truyền thông cần phải được chú trọng đúng mức, nhất là đối với những trường mới được thành lập.

Do đó, để làm tốt công tác truyền thông, thứ nhất, các trường phải có một đội ngũ am hiểu về vai trò của truyền thông và truyền thông đại chúng. Thứ hai, xây dựng website nhà trường thực sự chất lượng về cả hình thức lẫn nội dụng. Bởi website chính là “bộ mặt” của nhà trường ở trên mạng Internet. Webiste còn là nơi giới thiệu các hoạt động nổi bật, những thành tựu trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường. Đây cũng chính là nơi để sinh viên thể hiện chính kiến thông qua các diễn đàn. Thế nên, không phải ngẫu nhiên mà hiện nay các trường đại học ở nước ta đang cố gắng cải thiện chất lượng website của mình để được lọt vào bảng xếp hạng các website hàng đầu của các trường đại học trên thế giới, qua đó đưa thương hiệu và hình ảnh của nhà trường ra toàn thế giới.

Thứ ba, khi có các sự kiện lớn diễn ra, như ngày thành lập trường, hội thảo khoa học, quảng bá tuyển sinh, các hoạt động tình nguyện có ý nghĩa xã hội, bộ phận truyền thông cần có một kế hoạch truyền thông cụ thể và thông qua các phương tiện truyền thông để tạo ra điểm nhấn trong mắt công chúng.

Bên cạnh đó, cần tận dụng tối đa các kênh truyền thông trên Internet, như You Tube, Facebook, Twitter, Blog… để quảng bá những sự kiện lớn của trường và sự hiểu biết của đội ngũ cán bộ giảng viên và sinh viên về các vấn đề “nóng” của xã hội. Ví dụ, sau khi giá xăng tăng thêm 2.100 đ/lít, một nhóm sinh viên trường Đại học FPT đã “chế” ra một bài hát, với tiêu đề “Vì xăng tăng cao”. Bằng các hoạt cảnh đơn giản và thông qua You Tube, đã có hàng ngàn lượt người xem clip vui nhộn này, qua đó trường hình ảnh của trường Đại học FPT được quảng bá rộng rãi hơn.

Thứ  tư, mỗi cán bộ, giảng viên của nhà trường cũng có thể trở thành một kênh truyền thông: Hãy nói tốt về trường, nhất là ở những nơi đông người; trong lớp học, ngoài việc truyền thụ kiến thức chuyên môn, hãy cho các sinh viên, kể cả sinh viên ngoại quốc biết thêm về truyền thống, chất lượng đào tạo, công tác nghiên cứu khoa học và chiến lược phát triển lâu dài của nhà trường trong tương lai. Nếu làm tốt công tác này, khi ra trường, các cựu sinh viên sẽ tự đưa nhà trường đến với các bậc phụ huynh và thí sinh.

Tài liệu tham khảo

1.Nguyễn Văn Dững (2011), BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG HIỆN ĐẠI, từ hàn lâm đến đời thường, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

2. Trần Hữu Quang (2009), Xã hội học về truyền thông đại chúng, Nxb Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh. 

 

 

 

Lời chia tay mùa hạ

Tác giả: SV Phạm Thị Hòa - K03 GDCT - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Cứ mỗi khi hoa phượng nổ rộ, tiếng ve kêu vang trong những buổi trưa hè, mùa thi đến với những cô cậu học trò, thì lại mở đầu cho một mùa hạ chia ly.

Với những sinh viên năm cuối cùng mùa hạ này khác với những mùa hạ trước. Hạ trước xa rồi còn gặp lại, hạ này chia tay không biết đến bao giờ mới có thể gặp lại. Nhớ ngày đầu tiên bước chân vào giảng đường đại học, trường mới, thầy cô mới, bạn bè mới… cảm giác hồi hộp chờ đợi tiết học đầu tiên của một sinh viên mới bước vào giảng đường đại học với bao hoài bão, ước mơ. Bốn năm của một chặng đường, bạn và tôi cùng trưởng thành trong sự quan tâm, chia sẻ, dìu dắt từng bước của thầy cô.

Còn nhớ lắm những buổi học trời lạnh giá buốt cô và trò cùng nhau làm việc quên hết cả thời gian, nhớ những buổi học bắt đầu cho những ngày hè cùng học, cùng thả hồn theo những trang kiến thức. Mai xa rồi sẽ còn nhớ lắm những giọng nói tiếng cười xưa, nhớ chỗ ngồi quen thuộc, nhớ những giờ ra chơi vui đùa như những đúa trẻ tinh nghịch, nhớ đến những trang giáo án đầy kỷ niệm của những thầy, cô giáo tập vào nghề trong sự hướng dẫn của thầy cô.

Vào đời sẽ còn bao nhiêu khó khăn, sẽ vấp ngã nhiều hơn nữa trong cuộc sống và rồi sẽ phải tự bước đi một mình trên con đường sự nghiệp của bản thân nhưng chúng em sẽ không bao giờ hối tiếc lựa chọn làm một sinh viên ngành sư phạm. Được học tập, rèn luyện dưới mái trường Đại học Hà Tĩnh là duyên lớn trong cuộc đời, ngày chia tay chúng  em bồi hồi khi nghĩ rằng mai đây ta sẽ không gặp nhau nữa, sẽ không còn được nghe tiếng giảng bài, tiếng phấn viết trên bảng của thầy cô. Chúng em biết rằng cuộc gặp gỡ nào rồi cũng sẽ phải chia xa,  đó là quy luật của cuộc sống nhưng không khỏi bùi ngùi xúc động.

Thay mặt cho những sinh viên sắp ra trường, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo, các cô chú phục vụ của nhà trường đã tạo điều kiện cho chúng em được học tập, rèn luyện tốt nhất. Chúng em xin gửi lời tri ân tới các giảng viên Khoa Lý luận chính trị, thầy cô dã dìu dắt từng bước đi đầu tiên của những cô cậu học trò vừa mới qua tuổi 18 như những người con, người em cách đây bốn năm về trước, chúc thầy cô dồi dào sức khỏe để tiếp tục có thêm nhiều cống hiến cho những thế hệ trẻ ngày mai. Nếu như có ước muốn trong cuộc đời này, chúng em vẫn mãi ước muốn cho thời gian trở lại để lại được sống và học tập trong vòng tay của thầy cô và bạn bè.

Tìm hiểu khái niệm “quyền con người”

Tác giả: TS. Nguyễn Thị Thanh Nhàn - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ghi nhận các quyền thiêng liêng của con người. Tiếp đó là các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 không chỉ thừa nhận và bảo đảm đầy đủ các quyền con người, quyền công dân phù hợp với luật pháp quốc tế mà còn khẳng định rõ: Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, có trách nhiệm bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân. Đặc biệt khái niệm quyền con người lần đầu tiên được được đưa vào Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) trong một chế định cụ thể. Tuy vậy, hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về quyền con người.

Có rất nhiều định nghĩa về quyền con ng­ười (nhân quyền), mỗi định nghĩa là một sự biểu hiện khác nhau ở góc độ nhìn nhận về vấn đề nhân quyền. Tuy nhiên, tổng hợp lại có thể chia thành ba nhóm quan niệm chủ yếu về quyền con ng­ười như­ sau:

- Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con ng­ười là một thực thể tự nhiên, nên quyền con ng­ười phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền", nghĩa là quyền con ng­ười, quyền lợi của con ng­ười với tư­ cách là ngư­ời, gắn liền với cá nhân con ng­ười, không thể tách rời.

Quan điểm này đ­ược các đại biểu tư­ t­ưởng của giai cấp tư­ sản ở thế kỷ XVII, XVIII như­ Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên. Tr­ường phái này cho rằng, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà n­ước. Xuất phát từ quan điểm này, Jacques Mourgon (giáo sư­ đại học khoa học xã hội Toulouse) đ­ưa ra định nghĩa: "Quyền con ngư­ời là những đặc quyền đư­ợc các quy tắc điều khiển mà con ng­ười giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền" [5, tr. 12]. Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến quyền con ngư­ời ở khía cạnh tự nhiên của nó.

- Quan niệm thứ hai: Trái với quan niệm thứ nhất, quan niệm này lại chỉ đặt con ng­ười và quyền con ngư­ời trong mối quan hệ xã hội. Quan niệm này cho rằng, con ngư­ời chỉ là một thực thể xã hội, nên quyền của nó chỉ đ­ược xác định trong mối tương quan với các thực thể xã hội khác và vì là quan hệ xã hội nên nó đ­ược chế độ nhà n­ước, pháp luật điều chỉnh bảo vệ.

Quan niệm này có tính tích cực khi coi quyền con ng­ười là một khái niệm có tính lịch sử, đặt con ng­ười trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì con ng­ười là thực thể của xã hội, có mối quan hệ phổ biến với xã hội nên quyền con ng­ười cũng luôn gắn liền với đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh chống bạo lực, chống bất công trong xã hội. Cơ sở của quyền con ngư­ời ở đây chính là trình độ phát triển của nền kinh tế, văn hóa, xã hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội quyết định.

- Quan niệm thứ ba: Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề quyền con ng­ười. Xuất phát từ quan niệm coi con ngư­ời vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con ng­ười: "Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [4, tr. 12].

Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con ng­ười là "động vật xã 
hội" [4, tr. 855] có khả năng "tái sinh ra con ngư­ời", con ng­ười là động vật cao cấp nhất trong quá trình tiến hóa. Do đó, về mặt này quyền con ng­ười trư­ớc hết là một thuộc tính tự nhiên. Quyền con ng­ười không phải là một "tặng vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà nư­ớc mà quyền con người trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản chất tự nhiên, đ­ược thể hiện ở quyền đư­ợc sống, quyền tự do, quyền đư­ợc sáng tạo, phát triển, quyền đ­ược đối xử như­ con ng­ười, xứng đáng với con ngư­ời.

Xét về mặt xã hội, con ng­ười mặc dù là động vật cao cấp nhất của tự nhiên, nh­ưng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp, con ngư­ời đã sống thành bầy đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội. Trong luận c­ương thứ VI về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ng­ười là tổng hòa những quan hệ xã hội" [4, tr. 21]. Do đó xét về khía cạnh xã hội, thì "quyền con người, ngay từ khi có xã hội loài ngư­ời, bên cạnh bản tính tự nhiên còn in đậm bản tính xã hội" [4, tr. 13]. Theo Mác: "Quyền con ngư­ời là những đặc quyền chỉ có ở con ng­ười mới có, với tư­ cách là con ng­ười, là thành viên xã hội loài ngư­ời" [3, tr. 14].

Khi xã hội hình thành giai cấp, hình thành nhà n­ước đã tạo ra những chuyển biến có tính "bư­ớc ngoặt" trong sự biến đổi mối quan hệ tư­ơng quan giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của quyền con ng­ười. Đi kèm xã hội có giai cấp là mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp; do đó, trong điều kiện xã hội có giai cấp thì bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp. Và ngay cả bản tính tự nhiên, những giá trị phổ biến của quyền con ng­ười cũng tất yếu chịu sự chi phối của giai cấp thống trị xã hội.

Mặt khác, quyền con ngư­ời, kể cả quyền tự nhiên, bẩm sinh còn bị ràng buộc, chi phối vào chính khả năng khám phá chinh phục tự nhiên của chính con người, nghĩa là phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của con ngư­ời, sự phát triển của lực l­ượng sản xuất, trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Con ng­ười càng có khả năng chế ngự, chinh phục thiên nhiên bao nhiêu thì tự do, quyền con ng­ười ngày càng đ­ược mở rộng, ngày càng đ­ược đảm bảo bấy nhiêu.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền con ng­ười không phải chỉ là phép cộng đơn giản đối với hai quan niệm về quyền con ng­ười nêu trên, mà từ phân tích nêu trên cho thấy bản chất hai mặt tự nhiên và xã hội của quyền con người có những thuộc tính phức tạp và luôn có sự thống nhất giữa hai mặt đối lập.

Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa khác nhau về quyền con người. Học giả Nguyễn Bá Diến cho rằng: "Quyền con ngư­ời là các khả năng của con ngư­ời được đảm bảo bằng pháp luật (luật quốc gia và luật quốc tế) về sử dụng và chi phối các phúc lợi xã hội, các giá trị vật chất, văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã hội trong phạm vi luật định và quyền quyết định các hoạt động của mình và của ng­ười khác trên cơ sở pháp luật" [1, tr. 34].  Định nghĩa này mới chỉ đề cập đến quyền con ng­ười với tư­ cách là phạm trù luật học.

Có một định nghĩa đang đ­ược sử dụng phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền ở n­ước ta hiện nay: "Nhân quyền (hay quyền con ng­ười) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con ng­ười, với tư­ cách là thành viên cộng đồng nhân loại, đ­ược thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [2, tr. 10].

Như vậy, có thể hiểu quyền con ng­ười là một phạm trù tổng hợp, vừa là "chuẩn mực tuyệt đối" mang tính phổ biến, vừa là "sản phẩm tổng hợp của một quá trình lịch sử lâu dài luôn luôn tiến hóa và phát triển". Quyền con ngư­ời "không thể tách rời", đồng thời cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội... Quyền con ng­ười là một tổng thể những quyền gắn bó với nhau trong mối t­ương quan biện chứng, đó là quyền cá nhân và quyền của dân tộc cộng đồng, quyền chính trị - dân sự và kinh tế văn hóa xã hội, quyền của cá nhân đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội...

Có thể thấy, mặc dù cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều cách nhìn nhận khác nhau về quyền con người, nhưng có một điều rõ ràng rằng quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch sử. Trong thời đại ngày nay, quyền con ng­ười không thể tách khỏi hòa bình, dân chủ và phát triển.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Bá Diến (1993), Về quyền con người - trong tập chuyên khảo "quyền con người, quyền công dân", Tập 1, Trung tâm nghiên cứu quyền con người - Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr. 30 - 56.

2. Học viện CTQG Hồ Chí Minh (1993), Tập bài giảng lý luận về quyền con người, Nxb Sự thật, Hà Nội

3. C.Mác - Ph.Ăngghen (1998), Về quyền con người, Nxb CTQG, Hà Nội.

4. C.Mác - Ph.Ăngghen (1986), Toàn tập, tập III, Nxb Sự thật, Hà Nội.

5. Jacques Mourgon (1995), Quyền con người, Nxb Đại học Pháp, Hà Nội.

6. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.