Uninature PT - шаблон joomla Скрипты

Một số biện pháp phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta

Tác giả: Th.S Phạm Huy Thông Khoa Lý luận chính tri - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm kinh tế nông thôn (KTNT), nhưng dù hiểu thế nào thì KTNT vẫn là tổng thể các hoạt động diễn ra trên địa bàn nông thôn, có quan hệ chặt chẽ với nông nghiệp.

Theo Giáo trình kinh tế chính trị, KTNT là một phức hợp những nhân tố cấu thành của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông - lâm - ngư nghiệp cùng với các ngành thủ công nghiệp truyền thống, các ngành tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và phục vụ nông nghiệp, các ngành thương nghiệp và dịch vụ… tất cả có quan hệ hữu cơ với nhau trong kinh tế vùng và lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Hiện nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, của kinh tế tri thức cùng xu hướng toàn cầu hóa kinh tế ngày một rộng và sâu, kinh tế nông thôn trên thế giới nói chung, ở nước ta nói riêng chắc chắn sẽ có những bước phát triển mới. Để phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta theo các tiêu chí đã đề ra cần phải thực hiện một số biện pháp sau:

Một là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. Đây là quá trình chuyển dịch cơ cấu KTNT theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của cư dân ở nông thôn.

Hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn phát triển theo hướng ngày càng văn minh, hiện đại hơn; các lĩnh vực hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế cũng có sự biến đổi rõ nét về chất, các quan hệ xã hội được hoàn thiện, một lối sống công nghiệp văn minh được hình thành.

Hai là, phát triển kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường ở nông thôn. Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ mô hình mang nặng tính tự cung, tự cấp truyền thống sang sản xuất hàng hóa, từ mô hình kinh tế mang nặng tính tự nhiên sang kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường, thậm chí còn phải đẩy nhanh quá trình này do áp lực của tiến trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, của khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế.

Do điểm xuất phát của KTNT nước ta thấp, nên không chỉ khâu sản xuất mà cả thị trường đều được tổ chức kém, bị chi phối bởi tiểu thương và phụ thuộc nhiều vào loại sản phẩm và khoảng cách từ nơi sản xuất đến thị trường; tính thương phẩm của hàng hóa quá kém, giao dịch chủ yếu là sản phẩm thô - dễ hư hỏng, chủ yếu là bán lẻ được cung cấp trực tiếp từ người sản xuất hoặc người thu gom (thường cũng chính là người sản xuất) với số lượng nhỏ,… tính cạnh tranh thấp, giá trị gia tăng ít. Vì thế, để phát triển các thị trường hiệu quả thì cần phải tạo ra các mối liên kết kinh doanh lâu dài giữa nông thôn và các chủ thể khác thông qua quan hệ hàng hóa - tiền tệ, trong một hệ thống có tổ chức để trao đổi sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng với mục đích tăng giá trị và tính cạnh tranh. Bên cạnh đó, sự phân phối công bằng cho những người tham gia là rất cần thiết để đảm bảo tính lâu bền của nó. Chính sự phối hợp tốt giữa họ giúp đạt hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong điều kiện có thay đổi; tạo ra những liên kết theo chiều dọc và các hình thức hợp tác khác.

Ba là, phát triển môi trường và bảo vệ môi sinh. Phát triển KTNT phải trên cơ sở của sự bền vững, tức là phải nâng cao được mức sống của người dân trên cả khía cạnh kinh tế, xã hội lẫn môi trường. Chiếu theo đó, nông dân phải được đặt ở vị trí trung tâm, phải là người được hưởng lợi trước tiên từ những thành quả của quá trình phát triển KTNT. Còn xét riêng quá trình phát triển nông nghiệp bền vững (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản), yếu tố đầu tiên và căn bản là hàng nông sản phải đảm bảo những yêu cầu nhất định. Cụ thể:

* Chất lượng sản phẩm phải phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường mà trước hết là phải đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế (GAP, ISO.1.400, HCACCP) và vệ sinh an toàn thực phẩm. Đồng thời sản phẩm nông nghiệp phải đa dạng, có hàm lượng công nghệ cao.

* Giá cả nông sản phải hợp lý, có sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu; khối lượng nông sản phải có quy mô đủ lớn theo yêu cầu của thị trường, tức là theo yêu cầu của từng nhà phân phối, nhất là của nhà nhập khẩu nông sản từ Việt Nam; thời gian cung cứng nông sản phải luôn đảm bảo so với bản giao kèo đã ký với phía đối tác.

Bốn là, xóa bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải theo mô hình nhiều trung tâm trên các vùng sinh thái tự nhiên và nhân văn; mỗi trung tâm lại có nhiều “vệ tinh” kết nối chặt chẽ với nhau về kinh tế - xã hội, văn hóa, lịch sử và sinh thái. Mô hình này cho phép tiến tới xóa bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn - xét trên phương diện mức sống vật chất và tinh thần. Điều khác biệt chỉ còn là ở chỗ, mật độ dân số và các công trình xây dựng ở đô thị cao hơn nông thôn, còn môi trường sinh thái tự nhiên ở nông thôn tốt hơn thành thị; nông thôn có cảnh quan thiên nhiên thỏa mãn nhu cầu du lịch nông thôn của cư dân thành thị.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Đăng Bằng (2002), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc Trung Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận văn tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trí Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

2. Nguyễn Đăng Chất, Nguyễn Văn Hiền, Lê Hữu Phúc (1994), Về phát triển kinh tế nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

3. Đặng Kim Sơn (2002), Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp và nông thôn, Nxb Thống kê, Hà Nội.

 

Vấn đề tăng cường QPAN trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH

Tác giả: CN. Phạm Thị Thanh Huyền - Khoa Lý luận chính trị - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

VÁN ĐỀ TĂNG CƯỜNG QUỐC PHÒNG AN NINH TRONG CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

(Bổ sung, phát triển năm 2011)

Quốc phòng an ninh là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong quá trình đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi tình hình thế giới, tình hình khu vực có nhiều biến động phức tạp, sự tranh chấp diễn ra trên biển Đông ngày càng gay gắt đòi hỏi cần phải tăng cường hơn nữa công tác quốc phòng an ninh. Chủ trương của Đảng về vấn đề này thể hiện rất rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)

Về mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng an ninh, Cương lĩnh đã nêu rõ: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hoà bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lưc thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”.

Cương lĩnh đã xác định lực lượng thực hiện nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Để có được lực lượng nòng cốt đủ mạnh thực hiện tốt nhiệm vụ tăng cường quốc phòng an ninh cần phải xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin yêu. Xây dựng Quân đội nhân dân với số quân thường trực hợp lý, có sức chiến đấu cao; lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp. Xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh toàn diện; kết hợp lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách, các cơ quan bảo vệ pháp luật với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Chăm lo nâng cao phẩm chất cách mạng, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong điều kiện mới. Xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang được trang bị kỹ thuật từng bước hiện đại. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát triển đường lối, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân và lý luận, khoa học an ninh nhân dân.

Trong xu thế toàn cầu hóa, đối với lĩnh vực quốc phòng an ninh, trong Cương lĩnh Đảng ta đã chủ trương: “chủ động, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”. Điều này sẽ tạo điều kiện cho việc thu hút được nhiều ơn nữa sự đồng thuận của bạn bè quốc tế về quan điểm thực hiện chiến lược quốc phòng an ninh của Đảng, góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh cho đất nước.

Mối quan hệ giữa tăng cường quốc phòng an ninh với sự phát triển kinh tế - xã hội được Cương lĩnh chỉ rõ:  “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn”. Quan điểm này biểu hiện sinh động của mối quan hệ biện chứng, khách quan giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để giải quyết tốt mối quan hệ này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quan ta phải thực hiện tốt việc kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế. Sự kết hợp đó sẽ góp phần thiết thực đưa chủ trương của Đảng vào trong cuộc sống, bảo đảm sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đạt nhiều thành tựu to lớn hơn nữa.

Một vấn đề mang tính nguyên tắc, đồng thời là một trong những biện pháp cơ bản trong  tăng cường quốc phòng an ninh là : “Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng - an ninh”. Đảm bảo nguyên tắc đó sẽ giữ vững được tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đát nước của chúng ta hiện nay.

Những quan điểm trên về tăng cường quốc phòng an ninh là sự tiếp tục và phát triển quan điểm trong các Cương lĩnh và Nghị quyết các kỳ đại hội trước của Đảng. Những quan điểm đó cần được quán triệt sâu rộng trong toàn xã hội, được cả  hệ thống chính trị thực hiện nghiêm túc để có một đất nước Việt Nam  hòa bình, ổn định và phồn vinh.

Tài liệu tham khảo: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị  Quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2011

Khoa Lí luận Chính trị tham gia Lớp học tập quán triệt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng

Tác giả: Khoa Lý Luận Chính Trị - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Từ ngày  1- 5/8/2011,  tại Thị xã Cửa Lò (Nghệ An), các giảng viên Khoa Lý luận Chính trị đã tham gia “Lớp học tập Quán triệt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng cho giảng viên lý luận chính trị các trường Đại học, Cao đẳng” từ Thừa Thiên - Huế trở ra do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Giáo dục -  Đào tạo tổ chức.

Tại lễ khai mạc lớp học, PGS,TS. Phạm Văn Linh - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã nêu bật ý nghĩa và tầm quan trọng của việc quán triệt các nội dung Nghị quyết Đại hội XI của Đảng cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, đáp ứng yêu cầu công tác giảng dạy, nghiên cứu trong hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng.

Qua 5 ngày học tập, các giảng viên đã được nghe các báo cáo viên, là những người trực tiếp tham gia chuẩn bị các văn kiện, viết tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI lên lớp với các chuyên đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020; Báo cáo Chính trị của BCH Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI; Điều lệ Đảng (Sửa đổi, bổ sung); Những nội dung sửa đổi giáo trình các môn học Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với tinh thần học tập, nghiên cứu nghiêm túc, cầu thị, các học viên của lớp tập huấn đã nắm vững những luận điểm cơ bản, nội dung mới trong các Văn kiện Đại hội cũng như những chỉnh sửa, bổ sung trong giáo trình các môn học lý luận chính trị. Đây chính là một tiền đề quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức lý luận và thực tiễn cho đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng nói chung, cho đội ngũ giảng viên trường Đại học Hà Tĩnh nói riêng trong công tác nghiên cứu và giảng dạy; góp phần cùng với nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ năm học mới, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng cộng sản Việt Nam.