Uninature PT - шаблон joomla Скрипты

Làng tôi, mười lăm trở về

Tác giả: ThS. Đinh Tiên Hoàng - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Tôi rời khỏi Làng của tôi đã mười lăm năm, trong khoảng thời gian ấy thì có hơn mười năm tôi đi miết gần như không quay về đó nữa, phần vì cha mẹ tôi cũng đã chuyển về quê nội tôi, phần vì tôi giờ chọn lập nghiệp ở thành phố nên không có nhiều thời gian để trở lại. Ra đi một phần tư đời người nhưng chưa bao giờ tôi quên được mảnh đất nơi tôi sinh ra và nuôi tôi lớn lên.


 

Tôi trở về Làng vào một ngày thời tiết khá đẹp, mười lăm năm nói là lâu nhưng cũng chưa đủ để làm khác lạ đi cái khuôn hình con người tôi, ấy thế mà cũng có không ít người không còn nhận ra tôi, đám trẻ con ngày tôi ra đi chúng còn lít nhít không biết đã đành, nhưng những người lớn có người cũng phải nhìn thật lâu mới nhận ra tôi, hình như tôi đã già đi rồi thì phải.

 

Tôi đi từ đầu làng đến cuối làng, vào thăm một vài nhà là những gia đình thân với cha mẹ tôi ngày xưa ở đây, và ăn một bữa cơm ở nhà hàng xóm ngay bên nhà cũ. Khung cảnh Làng tôi cũng không thay đổi nhiều lắm, chỉ có một vài thay đổi không đáng kể, là xã điểm nông thôn mới nên đường sá được chỉnh trang quy củ và sạch đẹp hơn, không có công trình nào mới từ phúc lợi công cộng cho đến tư gia. Xem chừng mọi thứ vẫn thế như lúc tôi ra đi.

 

Cũng lâu rồi tôi mới quay về làng, ngày xưa ông cụ thân sinh tôi cũng là cán bộ có tâm huyết với địa phương nên người dân ở đây cũng quý, với văn hoá có chén rượu thì ới, có hoạn nạn thì chia nên trong mâm cơm chiều đón tôi cũng có khá đông những người trong làng cùng tham gia, nếu như trước đây những bữa như thế này với tôi rất bình thường, nhưng hôm nay cảm giác vừa ấm cúng, vừa thân mật, lại như luyến tiếc một nỗi niềm gì đó.

 

Mâm cơm chào đón đứa con xa quê trở về có rất nhiều thứ, nhưng tôi để tâm lắm đến việc trên đó có những gì, vì cái tình nó đong đầy nên mình cũng không còn quá quan tâm đến cái ăn, với lại hồi này cũng không còn đói kém nữa nên cũng chẳng ai nề hà chuyện ăn uống, quan trọng là cái tình người. Những lời hỏi thăm đến các cụ nhà tôi, những câu chuyện ôn lại ngày xưa, rồi những câu chuyện xảy ra trong làng mười lăm năm qua, nghe ra tôi mới thấy làng tôi thay đổi nhiều lắm, chứ không chỉ bình yên như những gì tôi vẫn thấy. Trong đôi mắt và lời nói của người già chất chứa đầy sự buồn rầu và lo lắng, “đám trẻ lớn lên đều như anh cả, chúng đi rồi ở lại nước ngoài, ở lại thành phố, không đứa nào quay về nữa, làng giờ chỉ còn các ông bà già”; tôi bảo, “các cụ cũng đừng trách chúng con, ra thành phố tiếp cận được cuộc sống có nhiều tiện nghi hơn, với lại ở thành phố chúng con mới có cơ hội kiếm được tiền, về quê giờ cũng vất vả quá cụ à”; “ờ thì các anh lớn lên phải đi ra là đã đành, nhưng lớp trung tuổi giờ cũng dần đi, rồi cũng chẳng thấy đứa nào trở về, toàn nhà trống im ỉm cả năm, chắc rồi chúng cũng không quay về nữa”. cầm chén rượu đưa lên môi uống như để che giấu đi sự im lặng mà tôi biết có nói thế nào cũng là biện minh.

 

Làng tôi nói riêng và xã của tôi nói chung có thể nói về kinh tế thì giầu nhất huyện, về văn hoá có lẽ cũng chỉ thua thị trấn là nơi trung tâm của huyện. Tuy là xã miền núi nhưng có cơ cấu kinh tế ổn định nên đời sống vật chất lẫn dân trí đều phát triển khá cao. Ngoại trừ những người làm cán bộ và các gia đình là giáo viên của các cấp học trên địa bàn thì một trăm phần trăm hộ gia đình của xã là công nhân của nhà máy chè, với cây chè, người dân quê tôi có mức thu nhập ổn định và có cuộc sống khá tươm tất. Tôi còn nhớ những năm khi mà mới có những chiếc ti vi nội địa nhập về, ở các xã lân cận người dân phải bỏ tiền vé chỉ để được xem một chương trình phim truyện bình thường thì xã tôi gần như nhà nào cũng có vô tuyến, hồi đó mỗi cái xe máy phải có giá cả vài ba chục con bò thì xã tôi cũng đã có gần trăm chiếc, có nhà còn có hẳn cả một con xe trắng hai đầu (ô tô).

 

Ngoài chè ra thì gỗ cũng là một nguồn thu nhập lớn cho người dân, cứ ngày lăn lóc với cây chè thì đêm đến là như mở hội với từng đoàn người rồng rắn dắt trâu bò vào rừng để kéo gỗ ra. Có tiền, ngoài sắm sanh vật dụng thì người ta xây dựng nhà cửa, rồi nhờ đó mà nghề thợ xây cũng kiếm ra không ít tiền. Nói chung, với cây chè, với gỗ rừng, ký ức trong tôi làng mình là một vùng quê xanh tươi và trù phú, đó cũng là cơ sở để tất cả đám trẻ con chúng tôi đều được cho ăn học tử tế và rồi thoát ly ra ở thành phố.

 

Mười lăm năm rồi, ấy vậy mà quê tôi vẫn thế, có lẽ vì tôi yêu cái Làng của tôi ngày xưa mà quên mất rằng đất nước mình trong mười lăm năm qua có rất nhiều thành tựu, đáng lẽ ra với nền tảng kinh tế như thế thì Làng tôi bây giờ phải như phố mới đúng, ấy vậy mà không, vẫn yên bình và chung thuỷ đến như thế. Trầm ngâm hồi lâu tôi mới chợt nhận ra bên mâm cơm đa số là người già, chỉ có vài người anh lớn tuổi chứ không phải chật sân như một đội bóng của ngày xưa, lớp thanh niên thì hẳn nhiên là không có rồi, vì chúng giờ đều đang ở thành phố cả. Tôi hỏi ông cụ bên cạnh, “cụ ơi sao các anh trong làng của mình đi đâu vậy ạ”, ông cụ lắc đầu “gỗ hết, chè không ăn thua nữa, không đi ra mà kiếm tiền thì chỉ có ở nhà rượu chè rồi sinh chuyện thôi”; “thế cây chè của mình giờ không còn ăn thua hả cụ”; “đã mười năm nay rồi vẫn thế, gói mỳ tôm đã lên từ năm trăm đồng thành ba nghìn mà chè vẫn một cân hai nghìn, làm không đủ trả công thuê hái với tiền thuốc sâu, phân bón”; một cụ khác thêm vào “ mà anh thấy đấy, đã lâu lắm rồi có một cái chương trình nông nghiệp nào đâu, dân mình mạnh ai làm gì thì làm, đến cây cam trồng đến mùa cũng hái cho bò ăn chứ có ai hỗ trợ cho đầu ra, đầu vào nào, con gà con ngoé nuôi lớn được thì ăn, dịch thì vứt, tự sinh tự diệt thế thôi”.

 

Không ai nói thêm câu gì về câu chuyện này nữa, rượu cũng ngà ngà, các cụ hăng hơn khi nghe nói đến đất nước Nhật Bản, một vài người cũng có nhắc đến nước Đức, anh chủ nhà thì bảo là thằng cu đang học năm nay cuối phổ thông, sang năm chắc sẽ cho đi Canada du học theo diện tìm việc, khuyến khích nó ở lại bển, không thì ở lại càng lâu càng tốt, ông cụ một bên thì lắc đầu nguầy nguậy, “đất nhà anh lắm thế không bảo nó ở nhà mà tiếp quản, đi đâu bên kia cho xa xôi”; “đất nhiều nhưng không cày ra ăn cụ ạ”. Cứ thế, một vài người thêm những câu chuyện về con cái họ, có cụ còn lấy điện thoại gọi video hẳn cho cả gia đình con trai đang đi làm công nhân tận Bắc Ninh, nơi mỗi tháng hai vợ chồng chúng nó làm bằng lương làm chè nửa năm.

 

Tôi lại lên chuyến xe trở lại thành phố, trong tâm trí tôi vẫn văng vẳng lời dặn dò trước khi ra đi “lần này đi nhớ về thăm làng thường xuyên nha con, mày mà cứ đi lâu thế, mười lăm năm nữa đừng nói là không còn thấy các cụ, mà có khi đến Làng mình cũng chỉ còn những ngôi nhà hoang và mồ mả thôi con ạ”.  Có lẽ không chỉ mỗi làng tôi mới như thế, trong khi thành phố đang không ngừng phình ra và chật chội, chen lấn, thì những ngôi làng đang ngày càng thưa đi bóng người. cứ thế này, có khi tất cả rồi chỉ còn là ký ức. Ai cũng đổ cho vì mưu sinh, nhưng không ai trả lời được câu hỏi tại sao không thể mưu sinh được nơi mình sinh ra và lớn lên, cứ thế này nông thôn, đồng ruộng rồi sẽ về đâu, trách nhiệm tại xã hội phát triển hay tại bởi con người, có lẽ không ít người đang nghĩ giống tôi, nhưng có khi họ cũng chẳng buồn nói, tất cả có lẽ là tại “thời cuộc”.

Nhiều đề tài chất lượng ở Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học của Khoa LLCT

Tác giả: Khoa LLCT - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Chiều ngày 9/4, tại phòng 503, nhà A3, cơ sở Cẩm Vịnh, Khoa Lý luận chính trị đã tổ chức thành công Hội nghị sinh viên nghiên cứu học cấp Khoa.


Đến dự Hội nghị, về phía Nhà trường, có ThS. Ngô Tất Đạt, Trưởng phòng Công tác chính trị - Học sinh sinh viên, ThS. Đặng Thái Linh, Phòng Quản lí khoa học. Về phía Khoa, TS. Nguyễn Thị Thanh Nhàn chủ trì Hội nghị, cùng sự tham dự của các giảng viên trong Khoa, các nhóm sinh viên có đề tài nghiên cứu và rất nhiều sinh viên quan tâm đến nghiên cứu khoa học.

 

Căn cứ kế hoạch cá nhân năm học 2018 – 2019, hầu hết các thành viên trong Khoa đều thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học. Trong đó, Tổ chính trị có 12 đề tài, Tổ luật có 5 đề tài, với gần 50 sinh viên tham gia nghiên cứu với tư cách cá nhân và nhóm.

 

Các đề tài phong phú về vấn đề nghiên cứu, ở cả Việt Nam và Lào. Nhiều vấn đề đang được xã quan tâm. Nhìn chung, chất lượng các đề tài đều đạt yêu cầu, bố cục trình bày rõ ràng, giải quyết được các vấn đề nêu ra. Các đều tài đều có tính khoa học, tính lý luận và thực tiễn.

 

Tại Hội nghị, Ban giám khảo, khách mời cũng như đông đảo các bạn sinh viên đã lắng nghe 5 nhóm trình bày công trình nghiên cứu của mình. Kết thúc các phần trình bày, Ban giám khảo đều đánh giá cao công trình nghiên cứu của các nhóm đã thể hiện được sự công phu, tìm tòi, sáng tạo trong quá trình nghiên cứu.

 

Kết thúc Hội nghị, Ban giám khảo đã tiến hành trao hai giải Nhất, một giải Nhì và hai giải Ba cho các nhóm nghiên cứu.

Một số chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội có hiệu lực từ năm 2019

Tác giả: ThS.Trần Thị Tú Anh - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Trong năm 2019, tiền lương, mức hưởng cũng như mức đóng bảo hiểm xã hội của cán bộ, công chức và người lao động (NLĐ) sẽ có những sự thay đổi.


Thứ nhất, về mức lương tối thiệu vùng.

Từ ngày 1/1/2019, Nghị định 157/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động chính thức có hiệu lực. Theo đó, mức lương tối thiểu vùng được điều chỉnh như sau:

Vùng I: 4.180.000 đồng/tháng;

Vùng II: 3.710.000 đồng/tháng;

Vùng III: 3.250.000 đồng/tháng;

Vùng IV: 2.920.000 đồng/tháng.

Một số địa phương thuộc các tỉnh, thành phố như Tiền Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Quảng Bình, Bình Dương cũng có sự điều chỉnh khi áp dụng mức lương tối thiểu vùng mới.

Thứ hai, tăng mức lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức.

Theo Nghị quyết 70/2018/QH14 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 thì từ ngày 1/7/2019 mức lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức sẽ được tăng thêm 100.000 đồng so với năm 2018 (tăng từ 1.390.000 đồng/tháng lên 1.490.000 đồng/tháng).

Đây cũng chính là căn cứ để tính bảng lương, mức phụ cấp, lương hưu và các khoản trợ cấp dành cho cán bộ, công chức, viên chức. Do mức lương cơ sở thay đổi tăng lên nên các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội được tính dựa trên mức lương cơ sở cũng tăng. Theo đó: Tăng mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau sinh; Tăng trợ cấp một lần sau khi sinh con; Tăng mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau sinh; Tăng mức lương hưu tối thiểu hàng tháng; Tăng mức trợ cấp mai táng; Tăng mức trợ cấp tuất hàng tháng; Tăng trợ cấp tai nạn lao động.

Thứ ba, quy định về việc người lao động được ý kiến sửa đổi, bổ sung thang bảng lương.

Nghị định 149/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết Khoản 3 Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc, có hiệu lực từ ngày 1/1/2019. Theo Nghị định này, người lao động được quyền nêu rõ quyền được tham gia ý kiến đối với các nội dung như:

- Xây dựng, sửa đổi, bổ sung nội quy, quy chế và các văn bản quy định khác của doanh nghiệp liên quan đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động;

- Xây dựng, sửa đổi, bổ sung thang lương, bảng lương, định mức lao động; đề xuất nội dung thương lượng tập thể;

- Đề xuất, thực hiện giải pháp tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ;

- Các nội dung khác liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, tăng mức lương tính đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Theo Quyết định 595/QĐ-BHXH năm 2017 quy định: "Mức lương tính đóng BHXH của NLĐ làm việc trong doanh nghiệp không thấp hơn mức LTT vùng tại thời điểm đóng đối với người lao động làm công việc hoặc chức danh giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường".

Theo Nghị định 157/2018/NĐ-CP, mức lương tối thiểu vùng năm 2019 có thay đổi, vì vậy sẽ kéo theo sự thay đổi mức lương để tính BHXH.

Bên cạnh đó, tiền lương đóng BHXH của cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) tính trên mức lương cơ sở, do đó khi mức lương cơ sở năm 2019 (từ 1/7/2019 tăng thêm 100.000 đồng) thì mức đóng BHXH của CBCCVC cũng tăng theo.

Thứ tư, doanh nghiệp phải công khai việc đóng BHXH, BHYT.

Nghị định 149/2018/NĐ-CP ngày 07/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc có hiệu lực từ 01/01/2019. Theo Nghị định này, nội dung người sử dụng lao động phải công khai gồm: Tình hình thực hiện nhiệm vụ, sản xuất, kinh doanh; nội quy, quy chế và các văn bản quy định khác của doanh nghiệp liên quan đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể khác mà doanh nghiệp tham gia; nghị quyết Hội nghị người lao động; việc trích lập, sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và các quỹ do người lao động đóng góp (nếu có); việc trích nộp kinh phí công đoàn, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; tình hình thực hiện thi đua, khen thưởng, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Thứ năm, tăng giá khám bệnh bảo hiểm y tế.

Theo Thông tư 39/2018/TT-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Bộ Y tế quy định thống nhất giá dịch vụ khá, bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp thì từ 15/01/2019, giá dịch vụ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc sẽ được áp dụng.

Theo đó, giá khám bệnh được quy định như sau:

- Bệnh viện hạng đặc biệt, hạng I: 37.000 đồng/lượt (tăng 3.900 đồng);

- Bệnh viện hạng II: 33.000 đồng/lượt (tăng 3.400 đồng);

- Bệnh viện hạng III: 29.000 đồng/lượt (tăng 2.800 đồng);

- Bệnh viện hạng IV, Trạm y tế xã: 26.000 đồng/lượt (tăng 2.700 đồng).

Giá hội chẩn để xác định ca bệnh khó (chuyên gia/ca; chỉ áp dụng đối với trường hợp mời chuyên gia đơn vị khác đến hội chẩn tại cơ sở khám, chữa bệnh) là 200.000 đồng.

Thứ sáu, giảm giá khám bệnh cho bệnh nhân không có BHYT.

Theo Thông tư 37/2018/TT-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Bộ Y tế quy định mức tối đa khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ Bảo hiểm Y tế trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh chữa bệnh trong một số trường hợp thì từ ngày 15/01/2018 giá tối đa của dịch vụ khám bệnh sẽ được giảm so với trước đây. Cụ thể như sau:

- Bệnh viện hạng đặc biệt và bệnh viện hạng I: 37.000 đồng/lượt (giảm 2.000 đồng/lượt);

- Bệnh viện hạng II: 33.000 đồng/lượt (giảm 2.000 đồng/lượt);

- Bệnh viện hạng III: 29.000 đồng/lượt (giảm 2.000 đồng/lượt);

- Bệnh viện hạng IV và trạm y tế xã: 26.000 đồng/lượt (giảm 3.000 đồng/lượt).

Giá khám sức khỏe toàn diện người lao động, lái xe, khám sức khỏe định kỳ (không kể xét nghiệm, X-quang) có mức giá tối đa là 145.000 đồng.

Trên đây là một số chính sách nổi bật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế có hiệu lực từ năm 2019.

Tài liệu tham khảo

[1]. Nghị định 157/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

[2]. Nghị quyết 70/2018/QH14 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2019.

[3]. Nghị định 149/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết Khoản 3 Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.

[4]. Thông tư 39/2018/TT-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Bộ Y tế quy định thống nhất giá dịch vụ khá, bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp.

[5]. Thông tư 37/2018/TT-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Bộ Y tế quy định mức tối đa khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ Bảo hiểm Y tế trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh chữa bệnh trong một số trường hợp.