Uninature PT - шаблон joomla Скрипты

Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới

Tác giả: Th.S Nguyễn Thị Hồng Ninh- Khoa LLCT - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân cư đang sống ở nông thôn. Phát triển nông nghiệp nông thôn đã, đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”

Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung Ương lần thứ bảy (khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới. Nghị quyết khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Chính vì vậy các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nông nghiệp, nông thôn nước ta còn là khu vực giàu tiềm năng cần khai thác một cách có hiệu quả. Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân, ở khu vực nông thôn mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Xây dựng nông thôn mới là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh; Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.

Nghị quyết 26/NQTW ngày 28/05/2008 đã nêu một cách tổng quát về mục tiêu, nhiệm vụ cũng như phương thức tiến hành quá trình xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước. Quan điểm đó của Đảng là sự kế thừa và phát huy những bài học kinh nghiệm lịch sử về phát huy sức mạnh toàn dân, huy động mọi nguồn lực để tạo ra sức mạnh tổng hợp xây dựng nông thôn mới.

Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức, hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ.

Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là chương trình mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện; bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng. Mục tiêu chung của chương trình được Đảng ta xác định là: xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta khẳng định xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ của xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là: Tiếp tục triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam.

Thực hiện đường lối của Đảng, trong thời gian qua, phong trào xây dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội. Quá trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được thành tựu khá toàn diện. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản đảm bảo, tạo sự thuận lợi trong giao lưu buôn bán và phát triển sản xuât; Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập và đời sống vật chất tinh thần cho người dân; Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường; Dân chủ cơ sở được phát huy; An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; Vị thế của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao. Những thành tựu đó đã góp phần thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, tạo cơ sở vững chắc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng nông thôn mới còn bộc lộ nhiều khó khăn hạn chế, nhất là về công tác quy hoạch. Quy hoạch nông thôn mới là một vấn đề mới, liên quan đến nhiều lĩnh vực và phải mang tính chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế về năng lực, nên trong quá trình triển khai còn nhiều lúng túng. Bên cạnh đó chúng ta còn gặp khó khăn về huy động nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới. Đời sống của người dân nông thôn còn nhiều khó khăn. Mặt khác, trong nhận thức nhiều người còn cho rằng xây dựng nông thôn mới là dự án do nhà nước đầu tư xây dựng nên còn có tâm lí trông chờ, ỷ lại. Chính vì vậy trong thời gian tới bên cạnh việc đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chúng ta cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, để mọi người dân đều nhận thức rằng: "Xây dựng nông thôn mới là công việc thường xuyên của mỗi người, mỗi nhà, mỗi thôn xóm và từng địa phương; tất cả cùng chung sức dưới sự lãnh đạo của Đảng..." nhằm thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới.

Xây dựng nông thôn mới được xác định là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, chính vì vậy nó phải có hệ thống lí luận soi đường. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới là sự vận dụng sáng tạo lí luận của Chủ nghĩa Mác Lênin vào thực tiễn ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, hướng đến thực hiện mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa, từng bước xóa bỏ sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động chân tay và lao động trí óc, để đi đến kết quả cuối cùng là giai cấp công nhân, nông dân và trí thức sẽ trở thành những người lao động của xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Thực tiễn cũng cho thấy, những xã hội tiến bộ bao giờ cũng chú ý tới việc thu hẹp khoảng cách sự phát triển giữa thành thị và nông thôn, phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội, cải thiện điều kiện sinh hoạt ở nông thôn, làm cho thành thị và nông thôn xích lại gần nhau. Chính vì vậy, bên cạnh phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lí luận, tổng kết thực tiễn quá trình xây dựng nông thôn mới, chúng ta cần học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới và trong khu vực về phát triển nông thôn tiên tiến hiện đại, để xây dựng hoàn thiện hệ thống các quan điểm lí luận về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn làm cơ sở khoa học cho thực tiễn. Xây dựng nông thôn nước ta trở nên văn minh, tiên tiến hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa và nét đẹp truyền thống của nông thôn Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết số 26-NQ/TW "Về nông nghiệp, nông dân và nông thôn" (cpv.org.vn)

2. Xây dựng nông thôn mới ở Hà Tĩnh, kết quả bước đầu và những khó khăn cần tháo gỡ. (hatinh.gov.vn)

3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị Quốc gia. HN 2006

4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. NXB Chính trị Quốc gia. HN 2011

Ngày 22 tháng 12 - ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam, ngày hội quốc phòng toàn dân

Tác giả: SV Nguyễn Thị Thảo - K02 GDCT - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Hàng năm cứ đến ngày 22/12, cả nước lại tổ chức rất nhiều hoạt động để kỷ niệm ngày thành lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, tôn vinh những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh anh dũng cho độc lập, tự do của Tổ Quốc.

Tháng 12-1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyềnGiải phóng quân. Chỉ thị nhấn mạnh: "Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền..., đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc..."

Ngày 22-12-1944, tại khu rừng thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã chính thức làm lễ thành lập, gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao-Bắc-Lạng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm chính trị viên, đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách Kế hoạch-Tình báo, đồng chí Vân Tiên (Lộc Văn Lùng) quản lý. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo.

Chỉ có 34 người, với 34 khẩu súng các loại nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm trong các đội du kích Cao-Bắc-Lạng, Cứu quốc quân... là con em các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù địch rất cao, đã siết chặt họ thành một khối vững chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi. Sau lễ thành lập, đội tổ chức một bữa cơm nhạt không rau, không muối để nêu cao tinh thần gian khổ của các chiến sĩ cách mạng, đội tổ chức “đêm du kích” liên hoan với đồng bào địa phương để thắt chặt tình đoàn kết quân dân.

Chấp hành chỉ thị “phải đánh thắng trận đầu”, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (17 giờ chiều 25-12-1944) và sáng hôm sau (7 giờ ngày 26-12-1944) đột nhập đồn Nà Ngần, tiêu diệt gọn 2 đồn địch, giết chết 2 tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.

Hai trận đánh đồn Phai Khắt, Nà Ngần thắng lợi đã mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Từ ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân luôn phát triển và trưởng thành. Ngày 22-12-1944 được xác định là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một tổ chức quân sự mới của dân tộc ta. Một quân đội của dân, do dân, vì dân; luôn gắn bó máu thịt với dân, luôn luôn được dân tin yêu, đùm bọc.

Lịch sử 62 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của quân đội ta gắn liền với lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc. Một đội quân được Đảng và Bác Hồ rèn luyện, đã từng là những đội tự vệ đỏ trong cao trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh, đội du kích Bắc Sơn, Nam Kỳ, Ba Tơ, Cao Bắc Lạng, Cứu quốc quân đến Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Một đội quân lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đã nối tiếp nhau bao thế hệ cầm súng chiến đấu, cùng toàn dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược hung bạo, giành lại độc lập thống nhất và bảo vệ vững chắc bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam XHCN và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang đối với cách mạng hai nước Lào và Cam-pu-chia anh em.

Năm 1989, theo chỉ thị của Ban bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22-12 hàng năm không chỉ là ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là ngày Hội quốc phòng toàn dân. Từ đó, mỗi năm, cứ đến ngày này, toàn dân Việt Nam lại tiến hành các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Các hoạt động như mít tinh, hội thảo, hội nghị đoàn kết quân dân, giáo dục truyền thống, biểu diễn văn nghệ, đại hội thanh niên, thi đấu thể thao, hội thao quân sự... được diễn ra ở khắp làng, xã, cơ quan đoàn thể, cơ sở đơn vị...

Những hoạt động của ngày hội như vậy nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao cảnh giác, ra sức rèn luyện bản lĩnh chính trị và trình độ quân sự, không ngại gian khổ, vượt qua khó khăn, trong mọi hoàn cảnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Phát huy thành tích to lớn đã đạt được trong 68 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tham gia xây dựng kinh tế đất nước và thực hiện tốt hơn chức năng làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; bảo vệ hòa bình, ổn định, phát triển trong khu vực và trên thế giới, xứng đáng với tên gọi: Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

Lý thuyết “bàn tay vô hình và hữu hình” với bài toàn giải quyết nợ xấu hiện nay

Tác giả: Tác giả ThS. Phạm Huy Thông - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Lý thuyết “bàn tay vô hình và hữu hình”

Bàn tay vô hình” là một phép ẩn dụ, một tư tưởng kinh tế do nhà kinh tế học Adam Smith đưa ra vào năm 1776. Ông cho rằng “Bàn tay vô hình” có nghĩa là: trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân tham gia muốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình. Ai cũng muốn thế cho nên vô hình chung đã thúc đẩy sự phát triển và củng cố lợi ích cho cả cộng đồng.

Theo Adam Smith, chính quyền mỗi quốc gia không cần can thiệp vào cá nhân và doanh nghiệp, cứ để nó tự do hoạt động kinh doanh; ông kết luận: “Sự giàu có của mỗi quốc gia đạt được không phải do những quy định chặt chẽ của Nhà nước, mà do bởi tự do kinh doanh”. Còn “Bàn tay hữu hình” là sự can thiệp và điều tiết thị trường của Nhà nước thông qua các cơ chế, chính sách và công cụ điều hành kinh tế vĩ mô, như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách ngoại thương, chính sách thu nhập. Quá trình điều tiết nền kinh tế của mọi quốc gia đều được vận hành bằng cả hai bàn tay “hữu hình” và “vô hình”.

Nợ xấu đang…rất xấu

Bất cứ một cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính nào cũng dẫn đến hậu quả nợ xấu tăng cao, tạo thành gánh nặng, nhiều khi làm tan vỡ tất cả mọi biện pháp khôi phục sự phát triển kinh tế. Tại thời điểm này, nền kinh tế chúng ta, nợ xấu đã trở thành một thách thức lớn cần phải nhanh chóng giải quyết.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, nợ xấu bao gồm ba bộ phận: nợ xấu của Chính phủ (nợ công), nợ xấu của hệ thống ngân hàng và nợ xấu của số lớn các doanh nghiệp, đặc biệt là của các doanh nghiệp nắm vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Trong bài viết này chỉ đề cập đến nợ xấu của hệ thống ngân hàng và nợ xấu của số lớn các doanh nghiệp.

Theo các báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu của hệ thống ngân hàng là 8,6%, khoảng 202.000 tỉ đồng. Nhưng nếu quan niệm nợ xấu là các món nợ vay của hệ thống tín dụng và không có khả năng trả trên thực tế, trong tương lai gần, các chuyên gia kinh tế ước tính cỡ trên 700.000 tỉ, trong đó nợ của khối bất động sản gần 300.000 tỉ đồng. Hầu hết các tài sản thế chấp cho các khoản vay này đều thấp hơn giá trị vay, hoặc là tài sản ảo, hoặc không thể bán để thu hồi vốn.

Trong khi nợ xấu của các doanh nghiệp chủ chốt và toàn hệ thống doanh nghiệp khiến hàng trăm nghìn các doanh nghiệp phải rời khỏi thị trường, kéo theo hệ lụy là hàng loạt các khoản nợ chằng chịt không thu hồi được. Đây là các khoản nợ dây chuyền, vòng vo rất khó phân định, nhưng đều bắt nguồn từ các thị trường đang bị đóng băng như bất động sản, thủy sản…Theo nguồn tin của Vnexpress, dư nợ cho vay bất động sản đang chôn vốn khoảng 1 triệu tỉ đồng và đây chính là hàng hóa tồn kho lớn nhất, gây trì trệ cho hoạt động của nhiều ngành sản xuất khác.

Những khoản nợ này đẩy nhanh sự phá sản các doanh nghiệp, làm chùn chân nhiều kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh. Đây cũng là một trong những lý do làm chậm tốc độ tăng tín dụng cho tới thời điểm này khi 9 tháng mới nhúc nhích được 2,35% so với cùng kỳ năm ngoái.

Nợ xấu, đặc biệt của ngân hàng cần phải giải quyết nhanh chóng, càng để chậm trễ sẽ càng gây ra những hậu quả lớn. Chẳng hạn, việc giải quyết nợ xấu chậm sẽ dẫn đến tình trạng các bảng cân đối kế toán của các ngân hàng vẫn chiếm tỷ lệ nợ xấu cao, đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ không thể cho vay làm các doanh nghiệp không tiếp cận được vốn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh; Khi nợ xấu càng kéo dài thì các tài sản cầm cố tại ngân hàng sẽ ngày càng bị hao mòn, hư hỏng, giá trị và giá trị sử dụng sẽ mất dần. Mặt khác, nếu nợ xấu không được xử lý nhanh thì hệ số tín nhiệm của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường đầu tư.

Linh hoạt kết hợp “bàn tay vô hình và hữu hình”

Tuy nhiên, hiện nay đang có hai luồng ý kiến khác nhau về giải quyết nợ xấu. Một số ý kiến cho rằng, nguyên nhân của nợ xấu bắt nguồn từ hoạt động không hiệu quả của hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp. Do vậy, trước hết, ngân hàng và doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm và giải quyết. Không thể lấy ngân sách của Nhà nước, vốn là tiền thuế của dân để giải cứu tình trạng nợ xấu hiện nay.

Nếu hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp không thể tự cứu mình thì nên để thị trường, tức “bàn tay vô hình” tự giải quyết nợ xấu. Ngân hàng hoặc doanh nghiệp nào không chịu được “nhiệt thị trường” thì buộc phải phá sản. Tuy nhiên, các nguồn lực tài chính trong nước đã không còn dồi dào như trước đây, bởi phần lớn các doanh nghiệp và nhà đầu tư đang ở trong tình trạng nợ nần do sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức cao. Chính vì thế ưu tiên của họ là giảm nợ chứ không phải mua nợ.

Mặt khác, nếu bán nợ xấu với giá quá thấp thì đồng nghĩa với việc nhiều doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng phá sản, còn các ngân hàng nếu không phá sản sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ. Chưa kể tới việc tài sản của ngân hàng và doanh nghiệp có thể sẽ rơi vào nhà đầu tư nước ngoài.

Hơn nữa, phần lớn các khoản nợ xấu có tài sản thế chấp là bất động sản, nên cả ngân hàng và doanh nghiệp đều không muốn bán nợ xấu với mức chiết khấu lớn, họ vẫn hy vọng có thể bán được tài sản thế chấp ở mức giá cao hơn. Còn với nhiều doanh nghiệp, việc bán tài sản thế chấp với mức giá thấp sẽ khiến họ bị mất trắng số tài sản này do vậy sẽ dẫn đến những tranh chấp về pháp lý, đồng thời tiêu tốn nhiều tiền của và thời gian.

Trong bối cảnh đó thì sự can thiệp của Nhà nước, tức “bàn tay hữu hình” vào giải quyết nợ xấu là cần thiết. Đây chính là biện pháp mà Chính phủ Mỹ từng sử dụng để giải cứu hai “đại gia” tài chính là Tập đoàn bảo hiểm AIG và ngân hàng lớn nhất thế giới Citigroup, với số tiền bảo lãnh lên tới hàng trăm tỉ USD. Tuy nhiên, ngân sách của Việt Nam không đủ lớn để làm theo “kiểu Mỹ”.

Do vậy, trước mắt, Chính phủ cần tiếp tục triển khai có hiệu quả các giải pháp, như ơ cấu lại nợ, giãn nợ, bán nợ xấu có tài sản bảo đảm; xử lý nợ bằng nguồn dự phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng và xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ; chuyển nợ thành vốn góp, cổ phần của tổ chức cho vay; mua bán nợ... Nhưng về lâu dài, cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ của ngành ngân hàng và các Bộ, cơ quan, địa phương liên quan.

Bên cạnh đó, trong thời gian tới, hệ thống ngân hàng cần hợp tác chặt chẽ với Chính phủ để triển khai các giải pháp khác mang tính chiến lược, bao gồm xử lý dứt điểm các ngân hàng yếu kém; khẩn trương xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án xử lý nợ xấu, minh bạch hoá và triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý nợ xấu; tăng cường thanh tra, giám sát hệ thống ngân hàng, tiếp tục chỉ đạo xử lý nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

Chỉ khi giải quyết tốt những khoản nợ xấu khổng lồ của hệ thống ngân hàng, tín dụng, khôi phục lại hoạt động lành mạnh của hệ thống tín dụng thì mới giải quyết tận gốc các khoản nợ vòng vo giữa các doanh nghiệp hiện nay, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế, hướng tới mục tiêu giảm nợ xấu xuống còn 3-4% cuối năm 2015.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc về việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2 và thứ 3 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII.

2. Bất động sản: “Tảng băng” 1 triệu tỉ đồng, nld.com.vn

3. Bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII.

4. Tác phẩm Bàn về tài sản quốc gia của Adam Smith, Nxb Sự thật, Hà Nội.

5. Kinh tế học của Paul Anthony Samuelson, Nxb Thống kê, Hà Nội.

6. Đề án tái cấu trúc khu vực DNNN của Bộ Tài chính năm 2012.

7. “Ngân hàng phải tự giải quyết nợ xấu của mình”, vneconomy.vn.

8. Wikipedia.