Uninature PT - шаблон joomla Скрипты

Quan điểm của chủ nghĩa Mác về động lực sinh tồn, sự phát triển của con người và xã hội

Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Bích Hằng- Khoa LLCT - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Mác đã nhiều lần khẳng định rằng, lịch sử xã hội là do con người làm ra, là hoạt động của những con người theo đuổi mục đích của bản thân mình. Như vậy, xã hội dù dưới hình thức nào đi chăng nữa cũng đều là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa con người với con người.

Con người muốn sống, trước hết cần phải có ăn, có mặc, có chỗ ở. Tất cả những cái đó chỉ có được nhờ con người sản xuất ra được tư liệu sinh hoạt của mình bằng cách sử dụng công cụ có sẵn trong tự nhiên hoặc bằng chính những công cụ do tự mình chế tạo ra, tức là nhờ lao động sản xuất. Đối với các thế hệ tiếp sau, việc sản xuất ra của cải được thực hiện trên cơ sở những tư liệu sản xuất đã được các thế hệ khác nhau trước đó sáng tạo ra để lại, đồng thời tự mình bổ sung, tăng cường thêm những tư liệu sản xuất mới. Tuy nhiên, ngay từ khi con người mới bước vào lịch sử cho đến hiện tại con người luôn luôn được tự nhiên trợ giúp và phải dựa vào tự nhiên.

Con người không thể sống thiếu tự nhiên. Song, con người không thể trở thành người nếu thiếu lao động. Do vậy, lao động xét về mặt xã hội, như Ph.Ăngghen đã khẳng định, sáng tạo ra chính bản thân con người.

Tuy nhiên, con người cũng không thể tồn tại nếu không được đáp ứng các nhu cầu cơ bản. Chính lao động đã tạo ra các sản phẩm để thoả mãn những nhu cầu sống còn của con người và của cả loài người. Nói về vai trò của nhu cầu đối với việc thúc đẩy sản xuất xã hội, Mác khẳng định rằng, không có nhu cầu thì không có sản xuất, mặc dù chính sản xuất làm nảy sinh ra những nhu cầu khác nhau.

Sự xuất hiện thường xuyên những nhu cầu mới và việc thoả mãn các nhu cầu đó là một quá trình liên tục không bao giờ ngừng lại. Bởi vậy, nhu cầu không phải chỉ là động lực mạnh mẽ kích thích sự phát triển của riêng sản xuất, mà còn là động lực thúc đẩy toàn bộ sự hoạt động nói chung của con người. Nhu cầu, sau khi nảy sinh, trở thành động lực hết sức quan trọng thúc đẩy con người hành động nhằm tìm ra những phương tiện để thoả mãn nhu cầu. Một nhu cầu khi được thỏa mãn thì sẽ giảm dần vai trò động lực. Song, trong cuộc sống của con người và của xã hội khi một nhu cầu này được thoả mãn thì lại sẽ xuất hiện một nhu cầu mới khác. Sự xuất hiện và thoả mãn các nhu cầu, do vậy, cứ thế vận động liên tục không ngừng.

Cái để thoả mãn nhu cầu đó chính là lợi ích. Lợi ích gắn rất chặt với nhu cầu. Trước Mác, Hê-ghen đã từng khẳng định rằng, lợi ích thúc đẩy lịch sử các dân tộc và các cá nhân. V.I.Lênin cũng hoàn toàn tán thành quan điểm này. Còn chính Mác cũng đã nhấn mạnh rằng, “tất cả cái gì mà con người đấu tranh để giành lấy, đều dính liền với lợi ích của họ”[3, t.1, tr.109] và “chính lợi ích là cái liên kết các thành viên của xã hội thị dân với nhau” [3, t.2, tr.181]. Mọi cuộc đấu tranh giai cấp, xét đến cùng, cũng đều là vì lợi ích của các giai cấp khác nhau. Đấu tranh giai cấp, do vậy, cũng là một trong những động lực thúc đẩy lịch sử, thúc đẩy sự phát triển của các xã hội có giai cấp.

Nói tóm lại, cùng với nhu cầu, lợi ích là một trong những động lực hết sức quan trọng thúc đẩy con người hành động, qua đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

Tuy nhiên, khi nói đến động lực thúc đẩy con người hành động và thúc đẩy xã hội phát triển, bên cạnh các động lực nhu cầu, lợi ích, mâu thuẫn trong xã hội, đấu tranh giai cấp, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin còn nói đến nhiều động lực khác nữa, chẳng hạn, hoàn cảnh kinh tế của xã hội, phương thức sản xuất và trao đổi, sự phân công lao động, các cuộc cách mạng. Đặc biệt, các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đánh giá rất cao vai trò động lực trong sự phát triển xã hội của lực lượng sản xuất.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất tự nó đã nói lên trình độ con người chiếm lĩnh tự nhiên và khả năng sử dụng các lực lượng tự nhiên của con người; nói lên trình độ phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Trong hoạt động sản xuất vật chất của mình, con người càng chiếm lĩnh được nhiều lực lượng vật chất bao nhiêu thì trình độ phát triển của xã hội càng cao bấy nhiêu. Chính C.Mác đãnhấn mạnh trong bộ Tư bản của ông rằng, những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất ra cái đó bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào. Đó cũng là lý do tại sao chủ nghĩa Mác coi sự phát triển của lực lượng sản xuất có vai trò quyết định, là động lực chủ yếu trong sự phát triển của xã hội.

Tuy nhiên, khi nói về động lực phát triển của xã hội, không thể chỉ nói đến các động lực vật chất, mặc dù đó là những động lực cơ bản, mà không tính đến các động lực chính trị -tinh thần khác như văn hoá và các giá trị văn hoá, trình độ dân chủ mà một xã hội đạt được, truyền thống và chủ nghĩa yêu nước cùng hàng loạt các động lực khác. Sự phát triển của con người và của xã hội được đo bằng sự tiến bộ của xã hội và của từng cá nhân con người. Tiêu chuẩn của sự tiến bộ đó tập trung vào sự phát triển phong phú của bản chất con người cũng như sự phát triển toàn diện con người nhằm xoá bỏ chế độ bóc lột.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

2. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

3. C.Mác và Ph.Ăngghen(1995), Toàn tập, Tập 1,2,3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4. C.Mác và Ph.Ăngghen(2000), Toàn tập, Tập 42, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5. Nguyễn Duy Quí (Trưởng ban biên soạn) (1999), Giáo trình triết học Mác-Lênin,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Ứng xử với thầy cô giáo - Nội dung quan trọng nhất trong văn hoá ứng xử của học sinh, sinh viên

Tác giả: ThS. Trần Nguyên Hào - Khoa Lý Luận Chính Trị - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Văn hoá ứng xử của học sinh, sinh viên đang là một vấn đề đang được bàn nhiều trong các phương tiện thông tin đại chúng, trong các diễn đàn và cả trong các công trình nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, nội dung quan trọng nhất trong văn hoá ứng xử của học sinh, sinh viên là vấn đề ứng xử với thầy cô giáo, đặc biệt là đối với các giảng viên đứng lớp, vẫn chưa được xem xét một cách đầy đủ và cụ thể. Theo chúng tôi, tìm hiểu thực trạng này và đề ra các giải pháp để giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh, sinh viên là một trong những nội dung cấp thiết hiện nay.

Qua việc phân tích các nghĩa của văn hoá ứng xử được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu, chúng ta có thể hiểu: Văn hoá ứng xử là cái đẹp, cái giá trị trong ứng xử, tức là ứng xử có văn hoá. Nó bao gồm: hệ thống thái độ, khuôn mẫu, kỹ năng ứng xử của cá nhân và cộng đồng người trong mối quan hệ với môi trường thiên nhiên, xã hội và bản thân, dựa trên những chuẩn mực xã hội nhằm bảo tồn, phát triển cuộc sống của cá nhân và cộng đồng người hướng đến cái chân, cái thiện, cái mỹ.

Vậy học sinh, sinh viên hiện nay đã ứng xử với thầy cô giáo một cách có văn hoá, phù hợp với chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, với truyền thống “tôn sư trọng đạo” hay chưa? Từ thực tế ở trường Đại học Hà Tĩnh và một số trường Đại học, cao đẳng khác, chúng tôi thấy một bộ phận học sinh, sinh viên chưa thể hiện điều  đó.

Có rất nhiều sinh viên hiện nay quan niệm quá trình học tập, rèn luyện tại truờng đại học chỉ là học để có nghề nghiệp, học để lấy tấm bằng; giảng viên, cán bộ nhà trường chỉ là người làm công tác đào tạo cho mình. Vì vậy  họ đã đánh mất những nét đẹp, xa rời các chuẩn trong cách ứng xử với thầy cô giáo vốn đã được giáo dục từ thời phổ thông. Đó là thái độ không tôn trọng giảng viên trong giờ học mà những biểu hiện cụ thể là cãi lại lời giảng viên khi bản thân có lỗi, bị phê bình; là không đứng dậy chào giảng viên khi họ vào lớp; là trả lời câu hỏi của giảng viên một cách cộc lốc, thờ ơ cho qua; là không đứng dậy trả lời câu hỏi xây dựng bài khi giảng viên yêu cầu; là vào ra lớp học không xin phép…Cả những hành vi nói chuyện riêng, làm việc riêng, sử dụng điện thoại, để chuông điện thoại reo trong giờ học của một số sinh viên và tình trạng các lớp không chuẩn bị khăn trải bàn, khăn lau bảng cho giảng viên, không làm vệ sinh trong lớp học trong rất nhiều tiết giảng của giảng viên cũng thể hiện sự ứng xử chưa văn hoá. Ngoài lớp thì trên giảng đường một số sinh viên gặp không chào thầy cô, không nhưòng đường cho thầy cô đi qua; một số sinh viên còn dùng những từ ngữ không tôn trọng khi bàn luận với nhau về tính cách của thầy cô. Điều đáng nói là thực trạng này thể hiện ở cả một số sinh viên sư phạm - những sinh viên không chỉ được giáo dục về kiến thức, kỹ năng mà về sự mô phạm để trở thành giáo viên trong tương lai.

Từ thực trạng trên, theo chúng tôi, để giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh, sinh viên - giáo dục văn hoá học đường, trước hết phải giáo dục, uốn nắn những lệch lạc về chuẩn mực trong thái độ, hành vi ứng xử của học sinh, sinh viên đối với thầy cô giáo. Đối với trường Đại học Hà Tĩnh, theo chúng tôi cần thực hiện một số giải pháp sau:

Về phía nhà trường:

Trước hết, phải nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc giáo dục văn hoá ứng xử nói chung, văn hoá ứng xử với thầy cô giáo nói riêng cho học sinh, sinh viên. Phải thực sự xem đây là một trong những vấn đề cơ bản trong thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo ở bậc cao đẳng, đại học.

Trước đây có quan điểm cho rằng sinh viên là đối tượng đã có nhận thức, đã phát triển ổn định về mặt tư tưởng, tâm lý nên nhiều trường đã không chú trọng đến việc giáo dục nội dung này. Tuy nhiên chúng ta biết giới trẻ nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng hiện nay bị tác động bởi nhiều yếu tố tiêu cực từ ngoài xã hội do mặt trái của cơ chế thị trường, sự “xâm lăng” của văn hoá không lành mạnh, lai căng, đồi truỵ, không phù hợp với văn hoá truyền thống… nên đã đánh mất nhiều chuẩn mực ứng xử, trong đó có ứng xử với thầy cô giáo.

Thứ hai, Đảng uỷ, Ban giám hiệu nhà trường, các khoa, các phòng ban chức năng cũng như Đoàn thanh niên, Hội sinh viên phải đem vấn đề giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh, sinh viên vào một trong những nội dung giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức lối sống cho học sinh, sinh viên và có kế hoạch triển khai thực hiện cụ thể.

Thứ ba, các Khoa phải tăng cường quản lý chặt chẽ hơn, sâu sát hơn đối với học sinh, sinh viên khoa mình. Hàng tuần, hàng tháng phải có sự tổng kết, đánh giá văn hoá ứng xử của học sinh, sinh viên trong khoa và đưa vấn đề này vào trong Báo cáo đánh giá hàng tháng để thông báo trước các cuộc họp chi bộ, họp khoa và lễ chào cờ, đồng thời có biện pháp xử lý, uốn nắn những lệch lạc về chuẩn mực ứng xử với cán bộ, giảng viên ở sinh viên.

Thứ tư, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên cấp trường và cấp liên chi đoàn, chi đoàn phải đưa vấn đề giáo dục văn hoá ứng xử vào trong các nội dung hoạt động và sinh hoạt hàng tháng. Tổ chức Đoàn, Hội, phải tổ chức những buổi nói chuyện, những diễn đàn, câu lạc bộ về vấn đề này hay lồng ghép vào các cuộc thi, các hội diễn văn hoá văn nghệ hay sinh hoạt truyền thống. Trong những năm qua, vấn đề giáo dục văn hoá ứng xử cho sinh viên, trong đó có văn hoá ứng xử đối với thầy cô giáo đã được một số liên chi đoàn như LCĐ Khoa Lý luận chính trị, LCĐ khoa Ngoại ngữ đưa vào nội dung sinh hoạt trong các ngày chủ điểm, nhất là ngày 20 tháng 11 với chủ đề “Tri ân Thầy Cô”. Tuy nhiên trong toàn trường, các Liên chi đoàn chưa tổ chức thường xuyên và chưa có hiệu quả thiết thực.

Thứ năm, các thầy cô giáo, trước hết là các giảng viên đứng lớp phải mẫu mực trong đạo đức, lối sống, là một tấm gương sáng về văn hoá ứng xử để học sinh, sinh viên noi theo. Đồng thời cán bộ, giáo viên nhà trường phải phê phán và có biện pháp xử lý những học sinh, sinh viên chưa tôn trọng mình và đồng nghiệp. Cách phê phán, xử lý phải thật sự nghiêm túc nhưng không quá gay gắt và nặng nề mà phải thật khéo léo, nhân văn để học sinh, sinh viên nhận ra được cái sai, cái chưa đẹp, cái chưa chuẩn mực trong thái độ, lời nói hành vi của mình đối với thầy cô giáo, từ đó có sự tự điều chỉnh và có hướng khắc phục và họ sẽ tôn trọng giáo viên hơn.

Thứ sáu, bản thân mỗi học sinh, sinh viên phải nâng cao ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức và lối sống, xây dựng văn hoá ứng xử theo những chuẩn mực tốt đẹp cho mình. Trước hết trong quan hệ giao tiếp, làm việc (học tập, nghiên cứu) với thầy cô giáo phải thể hiện được thái độ, lời nói, hành động lễ phép, tôn trọng, trân trọng thầy cô, đồng thời cũng phải biết góp ý, phê bình và chỉ ra những thái độ, lời nói, hành vi chưa đẹp, chưa “tôn sư trọng đạo” ở một số sinh viên khác, nhất là những bạn bè trong lớp mình.

Các bạn học sinh, sinh viên phải nhận thức được rằng văn hoá ứng xử với thầy cô giáo qua những tiêu chí đã đề cập ở trên không chỉ thể hiện nét đẹp của văn hoá truyền thống dân tộc, không chỉ là yêu cầu về đạo đức, lối sống đối với học sinh, sinh viên mà còn thể hiện giá trị bản thân - phông văn hoá của mình. Rất nhiều bạn sinh viên đã đi học các lớp kỹ năng mềm trong đó quan trọng là kỹ năng giao tiếp - một trong những yếu tố giúp con người thành công và hạnh phúc trong cuộc sống, sự nghiệp khi vào đời - nhưng điều đó sẽ vô nghĩa nếu bạn nào vẫn còn ứng xử chưa đúng mực với thầy cô giáo đang âm thầm thực hiện sự nghiệp “trồng người” trang bị kiến thức, kỹ năng cho mình!

Ngày nhà giáo Việt Nam 20-11 sắp tới - những nhà giáo thật hạnh phúc khi nhận được những lời chúc mừng, những bó hoa tươi thắm và cả những món quà có ý nghĩa từ phía học sinh, sinh viên. Nhưng tất cả giáo viên, giảng viên sẽ thật sự hạnh phúc và tự hào nếu hàng ngày đều nhận những lời nói, thái độ, hành vi ứng xử thể hiện sự tôn trọng, kính mến, biết ơn của học sinh, sinh viên đối với mình. Đó là món quà có ý nghĩa nhất và có giá trị nhất.

Một số nội dung cơ bản sửa đổi hiến pháp năm 1992

Tác giả: TS. Nguyễn Thị Thanh Nhàn – Khoa Lý Luận Chính Trị - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Ngày 29/10/2012, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 13, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý, thành viên Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã trình bày Tờ trình về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và dự thảo Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Theo Tờ trình, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã xác định 9 nội dung cơ bản sửa đổi Hiến pháp năm 1992:

1) Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để tiếp tục thể chế hóa đầy đủ và sâu sắc hơn chủ trương phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

2) Sửa đổi Hiến pháp 1992 để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động các lực lượng xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước;

3) Sửa đổi Hiến pháp 1992 để tiếp tục khẳng định sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội;

4) Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để thể hiện sâu sắc hơn quan điểm bảo vệ, tôn trọng quyền con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân;

5) Sửa đổi Hiến pháp 1992 để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường;

6) Sửa đổi Hiến pháp 1992 để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thể chế hóa sâu sắc đường lối quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

7) Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

8) Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để bảo đảm hội nhập quốc tế đầy đủ và vững chắc;

9) Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để bảo đảm hiệu lực, tính ổn định và phát triển của Hiến pháp, trong đó gồm cả vấn đề về bố cục, kết cấu khoa học, hợp lý của bản Hiến pháp.

Cụ thể hóa 9 nội dung cơ bản nêu trên, Dự thảo Hiến pháp sau khi sửa đổi, bổ sung có 11 chương, 126 điều. So với Hiến pháp năm 1992, Dự thảo Hiến pháp giảm 1 chương, 21 điều, 18 điều giữ nguyên, 95 điều sửa đổi và bổ sung 13 điều mới. Một số vấn đề hiện còn ý kiến khác nhau là về: Cách thể hiện các thành phần kinh tế trong Hiến pháp; thẩm quyền điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh; việc bầu thành viên Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; thẩm quyền phong hàm, cấp sỹ quan cấp cao của Chủ tịch nước; phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ; địa vị pháp lý của Hội đồng Nhân dân; cơ quan bảo vệ Hiến pháp; việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp...

Theo Tờ trình về dự thảo Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đối tượng lấy ý kiến bao gồm tất cả các tầng lớp nhân dân, các cơ quan, tổ chức ở Trung ương và ở địa phương; lấy ý kiến về toàn bộ nội dung của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, bao gồm: Lời nói đầu; chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường; bảo vệ Tổ quốc; tổ chức bộ máy nhà nước; hiệu lực của Hiến pháp và quy trình sửa đổi Hiến pháp; kỹ thuật trình bày các quy định của Hiến pháp.

Việc lấy ý kiến nhân dân được thực hiện thông qua các hình thức: Góp ý trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi đến các cơ quan, tổ chức; tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm; phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức phù hợp khác. Ủy ban đề nghị Quốc hội cho tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong thời gian 3 tháng, bắt đầu từ ngày 2/1/2013 và kết thúc vào ngày 31/3/2013.

Như vậy, theo tinh thần của hai Dự thảo trên đây có thể thấy Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã xác định cụ thể các vấn đề cần được sửa đổi trong Hiến pháp 1992 đáp ứng yêu cầu đất nước trong điều kiện phát triển mới. Bên cạnh đó, vấn đề trưng cầu ý dân đã được đề cập đến một cách khá toàn diện, đây là một trong những điều kiện vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân.