Uninature PT - шаблон joomla Скрипты

Cảm xúc về nghề giáo

Tác giả: SV. Lê Thị Thái - K2 SP GDCT - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

“Nếu được lựa chọn lại, bạn có chọn nghề sư phạm hay không”? Không phải đầu tiên tôi được nghe câu hỏi này, ngược lại nó đã rất quen thuộc với tôi, thậm chí đôi lần tôi cũng tự hỏi chính mình rằng: Nếu được chọn lại, tôi có chọn nghề sư phạm hay không?

Cuộc đời ai cũng có những ước mơ để mà cố gắng, phấn đấu theo đuổi ước mơ ấy. Và tôi cũng vậy! Ước mơ của tôi được hình thành và lớn lên trong những lần chơi trò chơi cùng  lũ bạn xóm tôi thưở xa lắc, xa lơ. Ngày ấy, lũ trẻ bọn tôi dăm bảy đứa thường tụ tập với nhau và chơi trò thầy cô giáo. Thuở ấy bọn tôi chơi trò oẳn tù tì và người nào thắng được nhiều lần thì được làm cô giáo còn lại những người thua phải làm học trò. Cô giáo trong mắt của những đứa trẻ ngây thơ, hồn nhiên là một người oai phong và quan trọng lắm; là người thể hiện sự hiểu biết vượt trội và và có khả năng dẫn dắt, chỉ bảo. Thế nên, ai cũng muốn được làm cô, ai cũng thích làm cô. Và có duyên chăng khi trong những lần chơi trò chơi tập làm thầy cô giáo tôi thường được làm cô nhiều hơn là làm học trò. Cứ thế tuổi thơ của tôi trôi đi trong vai trò của một người cô giáo của nhóm bạn cùng xóm. Giấc mơ trở thành một cô giáo nhen nhóm trong tâm hồn tôi tự đó, giấc mơ đó bay cao cùng cánh diều bọn tôi thường thả trong những buổi chiều chăn trâu nơi cánh đồng lúa quê hương, giấc mơ ấy nồng nàn trong những câu ca bọn tôi thường ngân nga trong ca khúc ngày đầu tiên đi học, giấc mơ ấy len lỏi vào trong giấc ngủ của tôi hằng đêm.

 Khi đã là học sinh THCS rồi đến học sinh THPT và cho đến cả bây giờ ở cái tuổi mà tôi bắt đầu biết nhìn nhận, đánh giá về mọi thứ tôi càng trân trọng hơn cái ước mơ của mình. Tôi biết nghề giáo có vai trò như thế nào đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Đó là nghề giữ vai trò quyết định trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Nghề giáo giúp đào tạo nên những con người vừa có đức, vừa có tài để cống hiến cho gia đình và  xã hội. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng khẳng định: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo. Các thầy cô giáo không những dạy chữ mà còn dạy người, họ cứ như cây thông trên sườn núi, cây quế giữa rừng sâu thầm lặng toả hương dâng hiến trí tuệ, sức lực cho đời. Nghề dạy học là một nghề cao quý bởi lẽ những người giáo viên họ không chỉ truyền thụ cho học sinh những kiến thức cần thiết cho cuộc sống mà còn dạy học sinh thành người, làm thế nào để trở thành người có phẩm chất đạo đức tốt, dạy cho học sinh làm những điều hay lẽ phải, hướng các em tới giá trị của Chân - Thiện - Mỹ. Và mỗi người giáo viên như con ong chăm chỉ ngày đêm bên trang giáo án cuộc đời, như những người lái đò thầm lặng chở khách qua sông, họ âm thầm cống hiến, âm thầm tỏa hương, không ồn ào, phô trương  như Bác Hồ đã từng nói:"Người thầy giáo tốt là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh”. Người giáo viên là là nhân tố quyết định chất lượng của một nền giáo dục, năng lực và đạo đức nghề nghiệp của họ góp phần to lớn vào sự hưng thịnh của một quốc gia. Nhận thức được điều đó Đảng và nhà nước ta rất coi trọng giáo dục, xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Còn đối với mỗi thế hệ học trò, thầy cô là người cha, người mẹ, người anh, người chị, là tấm gương sáng để họ noi theo. Trong số chúng ta, có ai là không mang theo bên mình những kỉ niệm sâu sắc với những người thầy, người cô của mình. Với tôi, thầy cô chính là người cha, người mẹ, là người chắp cánh để ước mơ trở thành cô giáo của tôi luôn cháy bỏng. Kính trọng thầy cô và yêu nghề giáo nên tôi rất tâm đắc câu nói của một nhà hiền triết- thi hào Tago: "Giáo dục một người đàn ông thì được một con người, giáo dục một người đàn bà thì được một gia đình, giáo dục một người thầy thì được một thế hệ".

Tôi đã khao khát trở thành một nhà giáo, với tôi hai từ “nhà giáo” vô cùng thiêng liêng, cao quý. Mỗi một người thầy, người cô, mỗi một môn học đều góp phần thắp lửa cho tình yêu nghề sư phạm của tôi. Đó là lí do vì sao tôi chọn thi vào sư phạm. Và tình yêu ấy thực sự thăng hoa, vỡ òa khi lần đầu tiên tôi được nghe học trò gọi mình là “cô ơi!” trong kì thực tập sư phạm lần 1. Tự hào, hạnh phúc, xúc động là những dư âm còn mãi trong tôi về khoảnh khắc ấy.

Tất cả những lý do đó đã giúp tôi trả lời cho bản thân mình rằng nếu được lựa chọn lại, không chút do dự  tôi vẫn chọn nghề giáo làm cái nghiệp suốt cuộc đời mình. Còn hôm nay, khi tôi đang theo học ngành sư phạm, tôi sẽ quyết tâm học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm, rèn luyện phẩm chất đạo đức đặc biệt là các chuẩn mực đạo đức nhà giáo, để không lâu nữa, khi ra trường, tôi sẽ vững vàng trong vai trò của một người giáo viên nhân dân, góp phần đào tạo nên những nhân cách phát triển toàn diện xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước, giáo dục truyền thống tôn sư trọng đạo và truyền ngọn lửa tình yêu đối với ngành sư phạm cho các thế hệ học sinh.

Khoa Lý luận chính trị tổ chức sinh hoạt truyền thống mừng Đảng mừng xuân và thi nghiệp vụ sư phạm

Tác giả: Th.S Phạm Huy Thông - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Hướng tới kỷ niệm 83 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2013), tối ngày 31/1/2013, tại Hội trường lớn, Khoa Lý luận Chính trị tổ chức buổi Sinh hoạt truyền thống mừng Đảng, mừng Xuân và Hội thi nghiệp vụ sư phạm.

Tới dự buổi Sinh hoạt và Hội thi có ThS. Lê Thị Hường, P.Bí thư Đảng ủy - Phó Hiệu trưởng nhà trường; PGS.TS Nguyễn Quốc Thắng, Trưởng Khoa Kỹ thuật - Công nghệ; TS. Nguyễn Văn Tịnh, Trưởng Bộ môn Tâm lý - Giáo dục; ThS. Trần Minh Đức - Trưởng khoa Ngoại ngữ; ThS. Dương Quỳnh Lưu - P.Trưởng Khoa SP Xã hội - Nhân văn; ThS. Trần Anh Vũ, Trưởng Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng; ThS. Thái Đình Hưng, Bí thư Đoàn trường; Nhạc sĩ Quốc Việt; TS. Trần Ái Đức, P. Phụ trách Phòng Quản lý sau đại học;  Đại diện sinh viên Lào cùng toàn thể cán bộ giảng viên và sinh viên trong khoa.

Điều đặc biệt của buổi Sinh hoạt truyền thống mừng Đảng, mừng Xuân năm nay là lồng ghép với Hội thi nghiệp vụ sư phạm để chuẩn bị hành trang cho các bạn sinh viên bước vào đợt thực tập trước mắt và tạo dựng sự nghiệp trồng người trong tương lai.

Buổi Sinh hoạt truyền thống và Hội thi diễn ra sôi nổi, hấp dẫn với nhiều hình thức thể hiện phong phú và đa dạng của các đội thi đến từ lớp K2, K3 và K4. Nếu ở phần thi “Tìm hiểu về Đảng và ngành Giáo dục”, các đội thi đã thể hiện được sự chuẩn xác của mình về mặt kiến thức, thì ở phần thi “Năng khiếu âm nhạc”, từng thành viên của các đội thi đã cho thấy khả năng cảm thụ âm nhạc về các ca khúc cách mạng, về người giáo viên và về quê hương đất nước.

Điểm nhấn của buổi Sinh hoạt truyền thống và Hội thi nằm ở phần thi “Xử lý tình huống sư phạm”. Đây thực sự là phần thi làm bùng nổ không khí của hội trường. Tất cả khán giả đều bất ngờ trước khả năng diễn kịch của các thành viên dự thi. Từng đội thi đã khéo léo lồng ghép những kiến thức đã học với các tình huống sư phạm xẩy ra trong thực tế bằng các tiểu phẩm. Cách giải quyết thông minh và dí dỏm từng tình huống sư phạm của các đội thi đã tạo nên đặc trưng riêng của Hội thi nghiệp vụ sư phạm Khoa Lý luận.

Trong không khí sôi nổi, với sự sáng tạo và năng động, trải qua 6 phần thi : “Viết bảng”, Giảng bài”, “Tìm hiểu về Đảng và ngành giáo dục”, “Năng khiếu âm nhạc”, “Xử lý tình huống sư phạm”, “Hùng biện”, 3 đội  đã thể hiện sự đoàn kết và cố gắng hết mình.Bằng sự làm việc tận tâm và sự đánh giá khách quan của Ban Giám khảo, Hội thi đã xác định được kết quả chung cuộc của các phần thi cụ thể như sau: Giải nhất thuộc về K4, giải nhì thuộc về K2, còn K3 nhận giải 3.

Kết thúc buổi Sinh hoạt truyền thống và Hội thi, ấn tượng đọng lại trong lòng mọi người là thái độ nghiêm túc, tinh thần sáng tạo và sự hồn nhiên tươi trẻ của các đội thi. Buổi Sinh hoạt truyền thống và Hội thi thực sự là một hoạt động bổ ích giúp cho sinh viên của Khoa Lý luận Chính trị rèn luyện về chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp để sau khi ra trường có thể vững tin bước vào nghề mà mình đã lựa chọn. 

Tìm hiểu tập quán văn hóa Hà Tĩnh và quan hệ đất đai

Tác giả: Th.S Đường Thế Anh - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Sau gần 2 năm triển khai “Chương trình xây dựng nông thôn mới”, cả 235 xã trong toàn tỉnh Hà Tĩnh đã có những chuyển biến rõ nét, nhiều tiêu chí quan trọng đã đạt được.Thành công bước đầu của Hà Tĩnh là làm cho dân tin và cùng chung tay xây dựng nông thôn mới. Một phong trào đang được người dân hưởng ứng mạnh mẽ đó là phong trào “hiến đất để xây dựng nông thôn mới”. Từ góc độ lịch sử, tác giả tìm hiểu một vài nét về tập quán văn hóa và quan hệ đất đai ở Hà Tĩnh để hiểu thêm về quá trình sử dụng, quản lý đất đai trước đây.

Một trong những khía cạnh nổi bật của truyền thống văn hóa và cũng là lối sống đặc trưng của người Việt nói chung và người Hà Tĩnh nói riêng là sự gắn bó tự nhiên giữa cấu trúc nhà-làng-nước. Trước mọi biến cố của lịch sử, sự cố kết  và mối quan hệ này vẫn trường tồn. Sự tác động này chi phối rất sâu sắc đến quan hệ ruộng đất ở Hà Tĩnh trong lịch sử.

Đây là kiểu quan hệ ruộng đất chứa đựng một mặt đất đai thuộc Nhà nước tập quyền, nhưng mặt khác lại có một bộ phận ruộng đất giao cho làng xã sở hữu. Trong mối quan hệ song song đó, sở hữu của Nhà nước tập quyền chiếm ưu thế. Ruộng đất của làng sở hữu lại được phân chia như sau: một phần giành cho ruộng đất công của làng như: Ruộng học điền, ruộng chùa, ruộng chia cho các chức sắc trong làng….Phần lớn ruộng đất làng xã quản lý chia cho các hộ gia đình trong làng cày cấy. Vì vậy, sở hữu đất đai lâu dài cá thể hộ gia đình hầu như không có. Các hộ gia đình trên thực tế là các hộ sử dụng đất đai.

Trải qua một thời gian phát triển, khi qui mô của làng vượt quá giới hạn nhất định về số hộ, thì làng lại được lập ra một làng mới. Đi liền với quá trình lập làng mới là sự phân chia lại ruộng đất. Do đó, ruộng đất theo đó mà thu hẹp qui mô. Để mở rộng ruộng đất, các làng xã ở Hà Tĩnh đã tìm cách khai hoang lấn biển thành các vùng đất mới, nhìn chung việc khai hoang, lấn biển đó cũng không đưa lại những diện tích quá lớn nhưng có một điều khách quan là làm tăng thêm sự cố kết của các cộng đồng làng xã ở Hà Tĩnh. Từ tính tất yếu này đã không tạo điều kiện cho việc sở hữu tư nhân về ruộng đất ở Hà Tĩnh phát triển.

Chính kiểu quan hệ nhà-làng-nước trong quan hệ ruộng đất đã tạo ra sự cố kết tâm lý, xã hội, và đến lượt nó sẽ làm cho quan hệ tâm lý tập quán văn hóa thêm chặt chẽ.

Xét về góc độ lịch sử cụ thể thì quan hệ ruộng đất ở Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng của cộng đồng làng xã đã có nhiều ưu điểm trong quá trình dựng nước và giữ nước của người Hà Tĩnh. Với ý nghĩa như vậy, nếu coi đây là một cách thức thực hiện lợi ích của các thành viên của xã hội trong quan hệ ruộng đất ngày nay nếu biết phát huy sẽ làm cho  Hà Tĩnh thu được những kết quả tích cực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay.

Bên cạnh đó ruộng đất ở Hà Tĩnh cũng chịu sự chi phối bởi quan hệ huyết thống là nhân tố sẽ làm cho qui mô sử dụng đất đại ở Hà Tĩnh cho chiều hướng giảm dần theo lịch sử phát triển của dân số.

Truyền thống văn hóa “An cư lạc nghiệp” đã thấm đẫm vào tâm thức người Hà Tĩnh. Mỗi gia đình thế hệ trước luôn mong muốn và chủ động tạo lập cho con cái họ những diện tích đất nhất định để có thể ổn định cuộc sống. Đất đai thì hữu hạn trong khi đó dân số luôn gia tăng. Kết quả là qui mô ruộng đất các thành viên trong xã hội theo đó mà giảm dần. Vì thế mà vấn đề tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp ở Hà Tĩnh cũng gặp không ít khó khăn.

Mặc dù, trong lịch sử Hà Tĩnh, có nhiều nhân tố có tính chất tấn công vào ruộng đất công để biến ruộng đất công thành ruộng đất tư, làm cho quan hệ đất đai biến đổi. Chẳng hạn, nhân danh người nắm quyền sở hữu, nhà nước quân chủ  sử dụng đất công để phân chia cho các quan lại có công tồn tại dưới hình thái lộc điền; những hộ nông dân giàu có mua lại ruộng đất của người nghèo làm tài sản riêng, bộ máy quản lý làng xã biến đất công thành đất riêng. Tuy nhiên, vì sự thừa nhận trên pháp lý quyền sở hữa đất đai là không phổ biến, hơn nữa, điều kiện tự nhiên văn hóa xã hội của Việt Nam đã không thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng tư nhân hóa đất đai. Có nhiều bằng chứng lịch sử cho thấy, mỗi khi ruộng đất  bị tập trung quá lớn vào trong tay một bộ phận nhỏ của xã hội, thì lập tức đại đa số dân chúng còn lại tiến hành đấu tranh để giành lại ruộng đất cho mình.

Bài học lịch sử cho thấy khi nào chính quyền các cấp biết chăm lo đến lợi ích của người nông dân, của những người cần ruộng đất thật sự thì chính quyền ấy hưng thịnh. Việc thực hiện lợi ích từ ruộng đất là quan hệ tác động sâu sắc đến các quan hệ khác của xã hội ở Hà Tĩnh.

Như vậy, quan hệ ruộng đất ở Hà Tĩnh về cơ bản vẫn chịu sự tác động của đặc điểm văn hóa, tập quán của người dân Hà Tĩnh. Những đặc điểm  này cần được nghiên cứu thấu đáo, từ đó đưa ra những biện pháp phù hợp để việc sử dụng, quản lý đất đai ở Hà Tĩnh đạt hiệu quả nhất.