Uninature PT - шаблон joomla Скрипты

Khoa Lý luận Chính trị nghiệm thu Đề tài Nghiên cứu Khoa học Cấp khoa của giảng viên

Tác giả: Khoa Lý Luận Chính Trị - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Khoa Lý luận Chính trị nghiệm thu Đề tài Nghiên cứu Khoa học Cấp khoa của giảng viên.

Ngày 06/06/2012, Hội đồng nghiệm thu Đề tài Nghiên cứu Khoa học Khoa Lý luận Chính trị đã tổ chức nghiệm thu các đề tài cấp khoa do các giảng viên của Khoa thực hiện.

Trên cơ sở đăng ký thực hiện Đề tài Nghiên cứu khoa học Cấp khoa của các giảng viên trong năm học 2011 – 2012, Hội đồng nghiên cứu khoa học Khoa Lý luận Chính trị đã tiến hành nghiệm thu bốn đề tài: “Nâng cao chất lượng dạy và học môn Chính trị hệ trung cấp chuyên nghiệp ở Trường Đại học Hà Tĩnh” của Th.S Nguyễn Thị Hồng Ninh; “Tìm hiểu ảnh hưởng của nho giáo trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh” của Th.S Nguyễn Thị Bích Hằng; “Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh” của Th.S Phạm Huy Thông ; “Đạo đức sinh thái và những giải pháp nâng cao đạo đức sinh thái cho sinh viên Trường Đại học Hà Tĩnh” của Th.S Đậu Thị Hồng.

Hội đồng khoa học và các giảng viên đang nghe trình bày đề tàiHội đồng khoa học và các giảng viên đang nghe trình bày đề tài

Tham gia buổi nghiệm thu, ngoài Hội đồng khoa học Khoa và các tác giả còn có các giảng viên trong Khoa. Với tinh thần làm việc nghiêm túc, các thành viên của Hội đồng khoa học đã có những nhận xét, góp ý thẳng thắn; chỉ rõ những điểm chưa đạt, hoan nghênh tinh thần nghiên cứu và khảo sát thực tế của các tác giả từ đó rút các bài học kinh nghiệm về công tác nghiên cứu khoa học.

Hội đồng đã tiến hành bỏ phiếu và xếp loại các đề tài, kết quả ba đề tài đạt loại xuất sắc là các đề tài của Th.S Nguyễn Thị Bích Hằng; Th.S Phạm Huy Thông và Th.S Đậu Thị Hồng; một đề tài xếp loại tốt của Th.S Nguyễn Thị Hồng Ninh. Trong đó, hội đồng đánh giá cao đề tài của Th.S Nguyễn Thị Bích Hằng và đề nghị tác giả hoàn thiện, nâng cao thành đề tài cấp trường, làm tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập.

Sau thành công của buổi nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên l� thành công của buổi nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học của giảng viên, đánh dấu một năm nghiên cứukhoa học nghiêm túc, hiệu quảcủa thầy và trò khoa Lý luận Chính trị. Ngoài những giá trị thực tiễn mà các đề tài hướng tới thì các nội dung lý luận và phương pháp đã được đúc rút sẽ là những bài học bổ ích cho công tác nghiên cứu khoa học những năm học sau.

Tìm hiểu về phương pháp giảng dạy lí luận chính trị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

Tác giả: ThS. Trần Thị Trà Giang, Khoa Lý Luận Chính Trị - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

Không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, mà xét trên phương diện là một Nhà giáo, Nguyễn Ái Quốc cũng là một người thầy vĩ đại, là người đã đi trước thời đại  với phương pháp giảng dạy tiên tiến rất cần thiết cho những giáo viên giảng dạy môn lý luận chính trị hiện nay.  Nghiên cứu phương pháp giảng dạy của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong những năm 1925 đến 1927 và những bài giảng trong tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, các bài giảng đã được in thành sách “Đường cách mệnh” (1927).  tác giả có mấy suy nghĩ về phương pháp sư phạm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc giảng dạy các môn lý luận chính trị của các trường Đại học hiện nay.

Trước hết  xác định đối tượng người học: Đối tượng giảng dạy lý luận cách mạng của Nguyễn Ái Quốc là những thanh niên trí thức Việt Nam yêu nước. Người đã thể hiện quan điểm nhất quán của mình trong việc xác định đối tượng người học: “Đất nước sẽ không còn nếu thanh niên không được hồi sinh”, “thức tỉnh thanh niên đi tới thức tỉnh dân tộc”.

Xác định mục đích đào tạo: Mục đích của Người là đào tạo những người thanh niên  yêu nước trở thành các chiến sĩ cộng sản, vừa kiên định về tư tưởng, vừa là những người tiên phong, trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và tham gia lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Chương trình giảng dạy, học tập của các lớp cũng khá rộng, bao gồm cả lý thuyết lẫn thực hành, học sinh được trang bị về lý luận cách mạng vô sản và phương pháp( kỹ thuật) cách mạng. Phần cuối của chương trình là gắn với hoạt động thực tiễn cách mạng. Đó là những vấn đề về vận động và tổ chức quần chúng như: công hội, nông hội…Học viên không chỉ được trang bị về lý luận mà còn được trang bị về kỷ năng thực hành các công việc như làm báo, diễn thuyết…. Bài giảng mở đầu của Người là về “tư cách” người cách mạng, gồm tư cách của mình, tư cách đối với người khác, với đoàn thể và tư cách trong công việc. Sau đó mới là những bài giảng đi vào nội dung lý luận.

Nội dung giảng dạy: Đầu năm 1927 cuốn “ Đường cách mệnh” do Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp cách dân tộc bị áp bức xuất bản. Bìa cuốn sách được trình bày: dòng chữ trên cùng bên phía góc trái là: “Không phải sách để bán”. Trong phần mở đầu cuốn sách, Nguyễn Ái Quốc đã viết “ Mục đích của cuốn sách này là để nói cho đồng bào ta biết rõ: 1) Vì sao chúng ta muốn sống thì phải làm cách mệnh. 2) Vì sao cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc một hai người. 3) Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi. 4) Đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rõ. 5)Ai là bạn ta? Ai là thù ta?. 6) Cách mệnh thì phải làm thế nào?”. Và để rồi đạt tới đích cao hơn là “Đồng bào xem rồi nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh”

Quan điểm về giáo dục: Người cho rằng: “Đạo đức không quyết định tri thức nhưng đó là nền tảng tri thức của giáo dục và phát triển, phục vụ mục đích cách mạng là hy sinh để giải phóng dân tộc”. Trên quan điểm đó Người cung cấp cho người học những kiến thức đơn giản đến cốt yếu, làm cho nội dung tư tưởng quan trọng nhất dần hình thành rõ nét trong tư duy người học.

Xây dựng phương pháp giảng dạy: Các học viên được thu hút và thích thú không chỉ qua những nội dung mới mẻ, mà còn bởi  phương pháp sư phạm của các giáo viên mà đặt biệt là của giáo  viên Nguyễn Ái Quốc. Bằng giọng nói ấp áp, bằng lối dùng từ chính xác, đơn giản, sử dụng nhuần nhuyễn phương pháp so sánh với tình hình thực tế để kiến thức lý luận thấm sâu vào người học. Trong bài giảng của mình, Nguyễn Ái Quốc thường lấy những ví dụ rất thiết thực để chứng minh và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận phức tạp. Chẳng hạn khi đề cập đến nguồn gốc chế độ tư bản, Nguyễn Ái Quốc đã hỏi học viên một câu: “ Một tên chủ tư bản đúc súng đạn ở Đức có liên quan với bà bán nước chè ở Việt Nam ta không?”. Những câu hỏi mở của thầy giáo như vậy làm cho học viên phải suy nghĩ và từ đó mà hiểu và nhớ rất lâu. Ngoài giờ lên lớp Người còn đến dự những buổi thảo luận, những buổi diễn đàn của học viên qua đó mà nắm bắt được những vấn đề học viên chưa hiểu hoặc hiểu chưa thấu đáo để có kế hoạch cụ thể khắc phục. Qua phương pháp giảng dạy của Nguyễn Ái Quốc, những vấn đề lý luận cao siêu, mới mẽ được truyền tải một cách sinh động, gần gủi, dễ nhớ, dễ hiểu, thấm sâu vào tâm trí người học.

Mời các giáo viên nước ngoài: Để lớp các lớp học của Việt Nam Cách mạng thanh niên đạt hiệu quả hơn, ngoài giáo viên chính là Nguyễn Ái Quốc các lớp học còn được các giáo viên Liên Xô đến giảng dạy: Bôrôđin, V.K.Bluikhe,B.A Páp lốp, V.M Prima cốp….

Tham gia nghiên cứu khoa học: Các học viên của lớp còn được tham gia viết báo, xuất bản sách giới thiệu về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn.

Tấm gương mẫu mực của người thầy: Bản thân Nguyễn Ái Quốc là một người thầy mẫu mực, tấm gương sáng cho mọi giảng viên nói chung, cho các giảng viên lý luận chính trị nói riêng: am tường về thực tiễn, vững vàng về lý luận và không ngừng tự học tập, tự nghiên cứu để làm rõ hơn những vấn đề lý luận mà cách mạng Việt Nam đòi hỏi phải giải quyết trong thời đại của mình.

Điều quan trọng nữa là Nguyễn Ái Quốc đã mạnh dạn bỏ cách dạy truyền đạt thụ động của nền giáo dục phong kiến tồn tại hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc mà đã tiếp cận một cách dạy học mới. Đó là cách dạy học nêu vấn đề, cách học xử lý tình huống, cách làm việc theo nhóm….

Từ năm 1925 đến năm 1927 nhiều thành niên yêu nước trên khắp mọi miền đất nước đã đến Quảng Châu học tập. Cho đến tháng 4 năm 1927 đã có 10 lớp cho khoảng 250-300 người. Đó là vốn quí báu mà Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam bằng tâm huyết, trí tuệ và sự sáng tạo của Người trên mọi phương diện, nhất là phương diện một Người Thầy.

Sự cần thiết phải điều chỉnh một số tiêu chí về xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay

Tác giả: ThS. Phạm huy Thông - Khoa Lý luận chính trị - Đăng ngày: . - Đăng trong mục: Tin tức - Sự kiện

SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐIỀU CHỈNH  MỘT SỐ TIÊU CHÍ VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở NƯỚC TA HIÊN NAY

Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng được đề ra trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Vì thế, ngày 30/12/2008, Ban bí thư đã ban hành quyết định số 205/QĐ/TW thành lập ban chỉ đạo thí điểm chương trình nông thôn mới, với mục tiêu xây dựng được mô hình thực tế nông thôn mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trên cơ sở tổng kết chương trình để nhân rộng ra toàn quốc. Với mục tiêu này, Ban chỉ đạo đã chọn 11 xã đại diện cho các vùng kinh tế - văn hóa - xã hội trong các nước để làm thí điểm.

Đến ngày 16/6/2009, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 491/QĐ -TTg, ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm cụ thể: Nhóm tiêu chí về quy hoạch, về hạ tầng kinh tế - xã hội, về kinh tế và tổ chức sản xuất, về văn hóa - xã hội - môi trường và về hệ thống chính trị.

Theo đó, Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng.

19 tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới bao gồm: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, thu nhập bình quân đầu người/năm, tỷ lệ hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã hội.

Mỗi tiêu chí đều được quy định mức chỉ tiêu cụ thể đối với từng xã để được công nhận đạt xã nông thôn mới. Cụ thể, về tiêu chí giao thông, 1 xã thuộc ĐBSH và ĐNB phải đạt 100% đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải, tiêu chí này đối với xã vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là 70% còn đối với xã vùng Trung du miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long chỉ là 50%.

Về hộ nghèo, xã vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ phải đạt tiêu chuẩn tỷ lệ hộ nghèo <3%, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ <5%, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long <7% và Trung du miền núi phía Bắc <10%.

Bộ tiêu chí cũng quy định, tất cả các xã nông thôn mới đều phải có hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; có nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch; có điểm phục vụ bưu chính viễn thông, có Internet đến thôn; có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả và không có nhà tạm, dột nát...

Để được công nhận là huyện nông thôn mới, phải có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới. Nếu tỉnh có 80% số huyện nông thôn mới thì sẽ đạt tỉnh nông thôn mới.

Triển khai các Nghị quyết của Đảng và Quyết định của Chính phủ, đến nay, sau hơn 3 năm thực hiện chương trình thí điểm xây dựng nông thôn mới, kết quả đạt được ở mỗi xã khác nhau nhưng đã hình thành mô hình nông thôn mới với sức sản xuất phát triển, hình thành được các vùng sản xuất hàng hóa, thu nhập của người dân các xã thí điểm tăng hơn 62%, cơ sở hạ tầng các xã được cải tạo, nâng cấp khá đồng bộ đã làm thay đổi rõ nét diện mạo nông thôn, tác động trực tiếp đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, thúc đẩy hoạt động văn hóa và phát triển kinh tế-xã hội từng bước được cải thiện; bản sắc văn hóa được gìn giữ, trình độ dân trí và chất lượng hệ thống cơ sở được nâng cao.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn tồn tại một số hạn chế trong việc triển khai, đó là mô hình nông thôn mới tuy đã hình thành nhưng một số nội dung còn chưa hoàn chỉnh, chưa bền vững; một số nội dung trong chương trình triển khai còn chậm, việc phát huy dân chủ của nhân dân địa phương tham gia chưa cụ thể hóa; đặc biệt còn cứng nhắc, gặp khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện một số tiêu chí. Bởi đối với từng tiêu chí, mỗi địa phương cần có cách thực hiện phù hợp tùy theo điều kiện, khả năng của mình. Ví dụ như tiêu chí về chợ nông thôn, không nhất thiết mỗi xã cần phải có 1 chợ để phục vụ người dân. Bởi có nhiều xã, chợ khu vực đã phục vụ tốt nhu cầu của người dân, không cần thiết phải xây thêm chợ mới. Đối với tiêu chí về nhà ở dân cư theo quy định nhà đạt chuẩn của Bộ Xây dựng hiện nay là nhà 4 cứng (tường cứng, cột cứng, nền cứng, mái cứng) chưa hẳn phù hợp với các vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trên cơ sở nghiên cứu của các chuyên gia, báo cáo tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới của 11 xã thí điểm, các tiêu chí thực sự cần thiết phải sửa bao gồm tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí 12 về cơ cấu lao động, tiêu chí 7 về chợ nông thôn, tiêu chí 14 về giáo dục, tiêu chí 15 về y tế.

Đến nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã hoàn thành việc xem xét, điều chỉnh lại Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có hai tiêu chí quan trọng là cơ cấu lao động và thu nhập.

Thực tế tại 11 xã điểm được Ban Bí thư chọn xây dựng nông thôn mới cũng cho thấy, sau 3 hơn năm thực hiện, nhiều xã đã đạt 18 tiêu chí nhưng riêng tiêu chí “Cơ cấu lao động” vẫn không đạt, vì mỗi năm chỉ giảm được bình quân 3 - 5% lao động từ nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp…Thậm chí ở nhiều nơi, khi đẩy mạnh phát triển sản xuất trên cơ sở phát huy lợi thế về nông nghiệp, tỷ lệ lao động nông nghiệp còn tăng lên.

Mặc dù mục tiêu lâu dài là phải chuyển dịch cơ cấu lao động sang phi nông nghiệp, nhưng ở giai đoạn trước mắt, đối với đa số xã giải quyết việc làm vẫn là ưu tiên hàng đầu. Do vậy, Bộ đã đề xuất thay thế tiêu chí “Cơ cấu lao động” bằng tiêu chí “Tỷ lệ người làm việc trên dân số trong độ tuổi lao động” với chỉ tiêu chung là 90%.

Về tiêu chí thu nhập, theo ông Tăng Minh Lộc, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quyết định 491/QĐ-TTg trước đây quy định chỉ tiêu chung để đạt được tiêu chí thu nhập trong xây dựng nông thôn mới là thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân chung của tỉnh là 1,4 lần. Thực tiễn cho thấy, tiêu chí này có nhiều điểm chưa phù hợp. Cụ thể, mục tiêu thu nhập 1,4 lần so với mức bình quân chung của tỉnh mang giá trị tương đối, thay đổi theo từng năm, dẫn tới các nhóm có mức thu nhập ban đầu thấp sẽ không có cơ hội vươn lên đạt chuẩn nông thôn mới. Người dân và cán bộ cơ sở không hình dung ra mức cụ thể phải phấn đấu là bao nhiêu. Do đó khó cho họ trong việc bàn bạc, xây dựng kế hoạch phát triển.

Mặt khác, nếu tính chuẩn thu nhập theo phương pháp tương đối, cả nước sẽ có rất nhiều mốc đạt tiêu chí về thu nhập khác nhau, sẽ xảy ra tình trạng một số tỉnh cùng đạt nông thôn mới nhưng thu nhập có thể chênh lệch nhau tới 2 - 3 lần. Điều này cũng dẫn tới không xác định được mặt bằng chung để đánh giá thực chất kết quả xây dựng nông thôn mới trên phạm vi cả nước để có giải pháp chỉ đạo, điều chỉnh chính sách đầu tư hỗ trợ phù hợp.

Xây dựng nông thôn mới không phải là hình thức, lấy con số để báo cáo thành tích mà là mục tiêu lâu dài trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà cụ thể là nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mỗi người nông dân. Do vậy, việc điều chỉnh một số tiêu chí cơ bản phù hợp với thực tiễn là hết sức cần thiết.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 04 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

2. Xây dựng nông thôn mới: Cần “mềm hóa” chỉ tiêu (Vov online).

3. Sửa đổi tiêu chí thu nhập, cơ cấu lao động (chinhphu.vn)