CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - TIẾP CẬN TỪ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - TIẾP CẬN TỪ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ThS. Trần Nguyên Hào
- Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gay gắt và tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mô hình tăng trưởng kinh tế truyền thống của Việt Nam đang bộc lộ nhiều hạn chế nội tại. Sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về tăng trưởng kinh tế, hội nhập quốc tế và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, những động lực tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên đang dần suy giảm hiệu quả.
Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Đại hội XIII đã xác định rõ yêu cầu phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng kịnh tế, chuyển đổi nền kinh tế dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực [Văn kiện ĐH XIII, tập 1, tr.120]
Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: Đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng theo hướng dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực.” (Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, tr.24)
Đáng chú ý, trong mô hình tăng trưởng mới, Đảng không chỉ nhấn mạnh yếu tố hiệu quả kinh tế mà còn đặc biệt coi trọng tăng trưởng gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, coi đây là đặc trưng bản chất của mô hình phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
- Cơ sở lý luận về mô hình tăng trưởng
2.1. Khái niệm mô hình tăng trưởng
Dưới góc độ kinh tế chính trị, mô hình tăng trưởng là tổng thể các phương thức tổ chức và vận hành nền kinh tế nhằm tạo ra tăng trưởng, bao gồm:
- Thứ nhất, cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là sự phân chia nền kinh tế thành các khu vực, ngành và lĩnh vực khác nhau, đồng thời phản ánh tỷ trọng, vị trí và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình phát triển kinh tế. Đây là yếu tố quan trọng của mô hình tăng trưởng vì mỗi giai đoạn phát triển sẽ có một cơ cấu ngành phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất và yêu cầu phát triển của nền kinh tế.
Trong nền kinh tế truyền thống, tăng trưởng thường dựa chủ yếu vào nông nghiệp và khai thác tài nguyên. Khi trình độ phát triển cao hơn, công nghiệp và dịch vụ trở thành khu vực giữ vai trò chủ đạo. Hiện nay, trong bối cảnh chuyển đổi số và Fourth Industrial Revolution, nhiều quốc gia đang chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên kinh tế số, công nghệ cao và các ngành dịch vụ tri thức.
Đối với Việt Nam, quá trình đổi mới đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng:
Giảm tỷ trọng nông nghiệp;
Tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ;
Phát triển các ngành công nghệ cao, kinh tế số và kinh tế xanh.
Điều đó cho thấy cơ cấu ngành kinh tế vừa là kết quả của tăng trưởng, vừa là động lực thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn.
Thứ hai, nguồn lực và động lực tăng trưởng
Nguồn lực tăng trưởng là toàn bộ các yếu tố được huy động vào quá trình sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất và giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Các nguồn lực cơ bản bao gồm: vốn; lao động; tài nguyên thiên nhiên; khoa học - công nghệ; dữ liệu và tri thức trong nền kinh tế số.
Trong kinh tế học truyền thống, tăng trưởng thường dựa vào mở rộng vốn đầu tư và lao động. Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế chính trị hiện đại, động lực tăng trưởng không chỉ nằm ở số lượng nguồn lực mà còn phụ thuộc vào chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Ngày nay, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Theo quan điểm của Karl Marx, sự phát triển của lực lượng sản xuất là cơ sở quyết định sự phát triển của xã hội. Trong điều kiện hiện nay, công nghệ số và tri thức chính là biểu hiện mới của lực lượng sản xuất hiện đại.
Đối với Việt Nam, mô hình tăng trưởng đang chuyển từ:
Tăng trưởng theo chiều rộng (dựa vào vốn, lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên),
sang:
Tăng trưởng theo chiều sâu (dựa vào năng suất lao động, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số).
Đây là yêu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ ba, cơ chế phân bổ và sử dụng nguồn lực
Cơ chế phân bổ nguồn lực là cách thức nền kinh tế huy động, phân phối và sử dụng các nguồn lực cho các ngành, lĩnh vực và chủ thể kinh tế khác nhau. Đây là nội dung phản ánh rõ bản chất của mô hình tăng trưởng và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong phân bổ nguồn lực thông qua cơ chế kế hoạch hóa. Trong nền kinh tế thị trường, thị trường trở thành công cụ cơ bản để phân bổ nguồn lực thông qua quan hệ cung – cầu và cạnh tranh.
Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế chính trị hiện đại, thị trường không phải lúc nào cũng phân bổ nguồn lực tối ưu. Vì vậy, Nhà nước cần thực hiện vai trò điều tiết nhằm: khắc phục thất bại thị trường; định hướng phát triển; bảo đảm công bằng xã hội; hỗ trợ các lĩnh vực ưu tiên chiến lược.
Ở Việt Nam, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở:
Phát huy vai trò của thị trường trong phân bổ nguồn lực;
Dồng thời bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết và định hướng của Nhà nước.
Điều này được thể hiện qua: chính sách đầu tư công; quy hoạch phát triển; chính sách tài khóa và tiền tệ; hỗ trợ doanh nghiệp; phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực.
Trong bối cảnh hiện nay, cơ chế phân bổ nguồn lực cần hướng mạnh vào: đổi mới sáng tạo; kinh tế số; chuyển đổi xanh; phát triển bền vững.
2.2. Các mô hình tăng trưởng cơ bản
- Tăng trưởng theo chiều rộng (dựa vào vốn, lao động)
- Tăng trưởng theo chiều sâu (dựa vào năng suất, công nghệ)
- Tăng trưởng dựa vào tri thức và đổi mới sáng tạo
- Thực trang mô hình tăng trưởng ở Việt Nam
3.1. Thành tựu
- Tăng trưởng GDP ổn định (6–7%/năm)
- Xuất khẩu trở thành động lực chính
- Công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển
- Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng
3.2. Hạn chế
- Phụ thuộc vào vốn và lao động giá rẻ
- Năng suất lao động thấp
- Giá trị gia tăng thấp
- Tính tự chủ kinh tế chưa cao
- Áp lực môi trường gia tăng
- Tịnh tất yếu của chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam
4.1. Yêu cầu của quy luật phát triển lực lượng sản xuất
Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định, mô hình tăng trưởng cũ không còn phù hợp, đòi hỏi phải chuyển đổi sang mô hình mới hiệu quả hơn.
4.2. Nguy cơ bẫy thu nhập trung bình
Ngân hàng Thế giới cảnh báo: “Việt Nam cần cải thiện năng suất và đổi mới sáng tạo để duy trì tăng trưởng dài hạn” (World Bank, 2023)
4.3. Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0
Công nghệ số, AI, tự động hóa đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất và cạnh tranh toàn cầu.
4.4. Áp lực từ hội nhập kinh tế quốc tế
Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao về:
- Công nghệ
- Môi trường
- Chất lượng sản phẩm
4.5. Yêu cầu phát triển bền vững và công bằng xã hội
Không chỉ tăng trưởng nhanh, Việt Nam cần đảm bảo:
- Công bằng xã hội
- Phát triển bao trùm
- Ổn định chính trị – xã hội
- Mô hình tăng trưởng mới theo quan điểm của Đảng
5.1. Tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo
- KH-CN là lực lượng sản xuất trực tiếp
- Đổi mới sáng tạo là động lực chính
5.2. Phát triển kinh tế số
- Dữ liệu trở thành tài nguyên chiến lược
- Kinh tế số là động lực tăng trưởng mới
5.3. Phát triển kinh tế xanh và bền vững
- Giảm phát thải
- Phát triển kinh tế tuần hoàn
5.4. Nâng cao năng suất lao động
- Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
- Ứng dụng công nghệ
5.5. Tăng cường tính tự chủ của nền kinh tế
- Phát triển doanh nghiệp nội địa
- Làm chủ công nghệ
5.6. Tăng trưởng gắn với tiến bộ và công bằng xã hội
Đây là một trong những trụ cột cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới mang bản chất định hướng xã hội chủ nghĩa.
5.6.1.Quan điểm của Đảng qua các kỳ Đại hội
- Đại hội XII: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr. 98)
- Đại hội XIII: “Gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021)
- Đại hội XIV: “Không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026)
5.6.2. Nội hàm của quan điểm
- Phân phối công bằng thành quả tăng trưởng
- Phát triển bao trùm (inclusive growth)
- Nâng cao chất lượng sống của người dân
- Bảo đảm cơ hội phát triển cho mọi nhóm xã hội
- Tăng cường an sinh xã hội
5.6.3. Ý nghĩa
- Khẳng định bản chất nhân văn của mô hình phát triển
- Tạo nền tảng xã hội cho tăng trưởng bền vững
- Nâng cao chất lượng tăng trưởng (không chỉ GDP)
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia thành công trong giảm nghèo: “Việt Nam là một trong những quốc gia thành công nhất trong giảm nghèo” (World Bank, 2022)
- Hàm ý chính sách
- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
- Đầu tư cho khoa học - công nghệ
- Phát triển nguồn nhân lực
- Thúc đẩy chuyển đổi số
- Bảo đảm công bằng xã hội và an sinh
- Kết luận
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng là yêu cầu tất yếu khách quan trong quá trình phát triển của Việt Nam. Đại hội XIV của Đảng đã đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức khi xác định mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và phát triển bền vững.
Đặc biệt, việc nhấn mạnh tăng trưởng gắn với tiến bộ và công bằng xã hội không chỉ thể hiện bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển ổn định, lâu dài và bao trùm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội XI.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội XII.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội XIII.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội XIV.
World Bank. (2022). Vietnam Poverty Assessment.
World Bank. (2023). Vietnam Development Report.
Các tin khác
- TRẦN PHÚ, HÀ HUY TẬP - NHỮNG NGƯỜI THẦY VIẾT NÊN TRANG SỬ VÀNG CỦA DÂN TỘC - 19/03/2026 02:34
- TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG - 25/02/2026 15:31
- QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH TẾ TƯ NHÂN - 16/01/2026 01:38
- ĐẢNG XÂY DỰNG CÁC HÌNH THỨC MẶT TRẬN DÂN TỘC PHÙ HỢP, CHỚP THỜI CƠ VÀ KỊP THỜI ĐỀ RA KHẨU HIỆU ĐẤU TRANH THÍCH HỢP, ĐÁP ỨNG NGUYỆN VỌNG BỨC THIẾT CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM - 17/11/2025 01:48
- ĐẢNG XÂY DỰNG CÁC HÌNH THỨC MẶT TRẬN DÂN TỘC PHÙ HỢP, CHỚP THỜI CƠ VÀ KỊP THỜI ĐỀ RA KHẨU HIỆU ĐẤU TRANH THÍCH HỢP, ĐÁP ỨNG NGUYỆN VỌNG BỨC THIẾT CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM - 17/11/2025 01:48
